Dark side of the moon

May 30, 2010 at 9:50 pm (My World)

Vùng tối của mặt Trăng là những vùng ta chẳng bao giờ ta nhìn thấy được. Cái chúng ta nhìn thấy chỉ là khoảnh khắc ánh sáng phản xạ từ mặt Trời của mặt  Trăng. Chúng ta đã quen với việc nhìn mặt Trăng đẹp lung linh bằng chính cái vùng ánh sáng phản xạ ấy, cái vùng mà tự thân mặt Trăng không bao giờ sáng nếu không vay mượn vẻ đẹp lung linh từ mặt trời. Cũng như ta đã quen với việc chấp nhận yêu một người bằng những vẻ hào nhoáng được vay mượn. Thây kệ những vùng tối, có thể xấu xí, có thể đẹp đẽ mà chúng ta chẳng bao giờ khám phá ra. Có thể chúng ta làm biếng, có thể chúng ta chấp nhận vận động dưới một xã hội đã bào mòn những ước mơ sống thật của mỗi con người. Không cách nào khác, để tồn tại, chúng ta lại phải đi mượn những thứ ánh sáng của chúng ta, và sáng nhờ những tia nắng phản xạ ấy.

Đến hôm nay vẫn còn xúc động khi xem lại video Mourinho khóc như một đứa trẻ trên vai Materazzi. Cái con người mà tưởng chừng như sắt đá có thể tan chảy dưới ý chí của ông, đã một lần được bày tỏ một cảm xúc chân phương nhất của con người. The bright side of the Moon của Mourinho chính là cái con người đã làm cả thế giới điên lên trong năm 2010 này. Phần “sáng” của Mourinho lại chính là những thứ tự chúng ta đơm đặt, hoặc tự huyễn hoặc ra, theo bàn tay đạo diễn của chính Mourinho. Đó là “người đặc biệt”, là “kịch sĩ”, là “kẻ độc tài”, những cụm từ chẳng bao giờ thân thiệt mà chỉ được dùng bởi những người yếu hơn, hoặc đang bị bí bách dành cho một thế lực cao hơn tất cả. Nhưng đằng sau vể kiêu ngạo ấy, cũng chỉ là một con người, một người cha luôn đưa con đi học trước khi tới giờ làm, một người chồng chung thủy của 20 năm. Hoặc như lời của những Sneijder, Materazzi, Mourinho không phải là một kẻ độc tài như chúng ta vẫn nghĩ, Mou là một người bạn lớn, một người thủ lĩnh tinh thần của tất cả mọi người. Một người mạnh mẽ là một người có thể đưa tấm vai của mình để che chở cho những người khác. Suốt bao năm qua, từ Porto, Chelsea đến Inter, mọi người đều cảm thấy an toàn bởi vì họ được đứng dưới cái bóng của người đàn ông mạnh mẽ ấy. Và những tiếng khóc nghẹn ngào, bờ vai run rẩy lại chỉ là những khoảnh khắc hiếm hoi rất “người thường” của siêu nhân Mourinho. “Tôi phải ra đi” đó là câu nói cuối cùng của người đàn ông ấy. Cũng như bao kẻ chinh phục vĩ đại, ông cũng đã đến, đã chiến thắng và đã ra đi.

Dark side of the moon còn có thể là một nơi nương chân bí ẩn. Như là một nơi mỗi chúng ta nép mình một cách bí mật, trốn tránh cái thế giới này. Không ai có thể nhìn tới vùng tối ấy của mặt trăng, cũng như chẳng bao giờ ai có thể biết một ta đang ngắm địa cầu màu xanh tươi đẹp mỗi ngày. Ta hẹn em ở vùng tối ấy của mặt trăng. Để ta và em tìm bình yên, tìm những điều hạnh phúc nhỏ nhoi chẳng bao giờ có thể tìm thấy ở nơi này…

“I’ll see you on the dark side of the moon”

Advertisements

Permalink Leave a Comment

“Sang” hay “chợ”…

December 22, 2009 at 7:47 am (Music, My World)

Âm nhạc có nhiều dòng chảy, như những dòng suối từ những nguồn khác nhau, tạo ra những màu sắc tươi đẹp và riêng biệt đặt trưng của mỗi dòng nhạc. Người thích Rock tìm đến sự bình yên trong những âm thanh chát chúa có trật tự. Pop dành cho tuổi trẻ và sự năng động. Jazz, Blue cho những phút giây ngưng tụ của khoảnh khắc… Và dĩ nhiên không ai thể nói dòng nhạc nào là cao hay dòng nhạc nào là thấp hèn. Mỗi dòng nhạc cũng như một công dân trong thế giới đa diện này: bình đẳng và có tiếng nói riêng. “Nhưng sẽ có những người bình đẳng hơn những người khác.” Giống như là chuyện “sang”, “hèn” giai cấp trong âm nhạc Việt Nam.

Khó có thể nói là nhạc thế nào là “sang” thế nào là “thị trường.” Nó mang cảm tính cá nhân của người viết và người nhận định hơn là phản ánh thứ âm nhạc mà nó chứa đựng. Khó có thể nói chính xác đặc điểm “nhạc sang” và nhạc thị trường, để có thể tìm ra được một định nghĩa xác đáng nhất. Và vì thế, người ta đang lạm dụng từ “nhạc sang” như là một cách để tự huyễn hoặc bản thân về trình độ thẩm mỹ của mình.

Nếu nói về đối tượng nghe, nhạc sang và nhạc thị trường có chung một thị trường. Không thể nói “nhạc sang” già hơn, bởi vì có rất nhiều người trẻ vẫn nghe thể loại âm nhạc đó hàng ngày. Và nhạc thị trường cũng nhắm đến những người trẻ, những người sinh viên. Tiếc là không có những số liệu đầy đủ để có thể kết luận “người trẻ như thế nào” sẽ nghe loại nhạc nào. Nhưng nếu xét thôi những cơ chế bình thường của âm nhạc, cái nào hay sẽ tới được công chúng. Loại trừ những yếu tố mang tính cục bộ (đặc biệt ghét hay thích một thể loại nào đó…), một người nghe nhạc giao hưởng cũng có thể nghe nhạc Rap như thường (có thể!). Và điều đó đúng với cả nhạc thị trường và nhạc “sang”.

Vậy điều gì đã tạo ra một thứ giai cấp như vậy trong âm nhạc. Chúng ta phải kể tới vai trò dán tem dán nhãn của báo chí. Những cụm từ kiểu như “nhạc sang” đang xuất hiện nhan nhản trên báo chí với một tần số càng ngày càng dày. Nếu chúng ta biết quyên lực của báo chí trong việc dẫn dắt ý kiến của đám đônglà rất lớn, việc tạo ra một thế hệ nghe nhạc hiện nay với suy nghĩ “nhạc trẻ”, nhạc chợ chỉ là một việc cỏn con. Một vài bài xã luận của những nhạc sị “tâm huyết” với nền âm nhạc nước nhà và “cảm thấy có trách nhiệm” với việc định hướng việc nghe nhạc của giới trẻ là đã quá đủ để người đời nhìn nhạc “thị trường” bằng một nửa con mắt. Thêm vào đó là những chỉ trích từ những… nhà văn vì lời ca khúc của nhạc “thị trường” là rẻ tiền đã khiến một bộ phận lớn mang cùng một cảm giác xấu hổ khi vào tiệm đĩa và đem ra một đĩa nhạc của Bảo Thy…

Việc tạo ra một ranh giới mỏng manh nhưng cực kỳ rõ ràng bằng việc chỉ mặt đặt tên ca sĩ nào là sang ca sĩ nào là thị trường đã tạo ra những cấp bậc trong giới nghệ sĩ. Bây giờ, nghĩ tới Quang Dũng người ta nghĩ tới một chàng ca sĩ ăn mạc bảnh bao chải chuốt. “Sang” nhỉ, vì nhạc của anh ta người ta gọi là nhạc “sang” mà. Để mỗi lần anh ấy xuất hiện, những bậc quý ông quý bà, cũng trong những bộ trang phục chải chuốt như vậy tâm đắc và (tự) khen: “ta phải nghe nhạc sang chứ, ta sang mà.” Bây giờ, Quang Dũng đã là một biểu tượng thực sự của dòng nhạc này với những ca khúc như: “Không cần biết em là ai, không cần biết em từ đâu.”

Đôi khi, một bài hát muốn “sang” thì người nghe phải “sang” và người hát cũng phải “sang”. Đó dường như là cách duy nhất mà người ta có thể phân loại chúng…

Permalink Leave a Comment

Convetional wisdom

December 15, 2009 at 8:46 am (My World)

Có bao giờ bạn tự hỏi: “Tại sao lại phải viết chữ đẹp.” Hay chỉ đơn giản là thầy cô bắt phải thế ? Hay chỉ đơn giản rằng: “Chữ đẹp là học giỏi ?” giống như tất cả những gì mà bộ máy nhồi sọ đang nhét vào đầu chúng ta mỗi ngày. Chữ đẹp, cũng như vô vàn những điều mà người ta dửng dưng và cho là “hiển nhiên” đang tạo ra những cái conventional wisdom, để rồi chính chúng ta là nạn nhân của chúng.

“Chữ đẹp” là nỗi ánh ảm của tôi suốt 12 năm phổ thông. Mỗi lần kiểm tra, tôi lại bị mất vài điểm vì “vở sạch chữ đẹp.” Hoặc, năm nào cũng bị vài dòng trên tờ giấy liên lạc rằng cần luyện chữ đẹp, viết chữ cẩn thận hơn, tỉ sự như thế. Mọi người viết chữ đẹp, tôi phải viết thôi. Giống như là “to win that game you have to play their rules” vậy.

Thử xem vài cái quan điểm người ta đưa ra để ép mọi người phải viết chữ đẹp là gì ?

Nét chữ nết người. Đây là một trong những lý do hùng hồn nhất đáng sợ nhất. Nó gieo ra một nỗi sợ vô hình cho mọi người: viết chữ xấu… là người xấu !!! Mặc dù chẳng có một cuộc nghiên cứu chính thức nào để xác định mối tương quan giữa chữ đẹp và thành công trong sự nghiệp. Người ta không đưa ra một con số cụ thể về tỷ lệ sinh viên vừa đậu đại học vừa viết chữ đẹp. Một nguyên tắc, nếu như chúng ta không thể tìm ra được những số liệu thống kê thuyết phục (vì những điều kiện khách quan chẳng hạn), ta phải có những lý luận rõ ràng để bảo vệ luận điểm đó. Vậy chăng, có một lời giải thích rõ ràng cho “nét chữ” ảnh hưởng đến tính cách con người ?

Lời giải thích tôi được nghe đi nghe lại nhiều lần nhất (nếu không tính “các cụ dạy thế”) và có vẻ thuyết phục nhất chính là những người ngăn nắp thường có xu hướng trình bày mọi thứ sạch sẽ và rõ ràng. Đúng và không đúng.

Ở Việt Nam, viết chữ đẹp không phải là một sản phẩm tụ nhiên của “tính cách”. Nó là một sản phẩm tự thân vận động của những tháng ngày nắn nót viết. Đó cũng giống như một học sinh phải thuộc làu làu tững chữ trong cuốn sách lịch sử trước khi tới trường để khỏi bị phạt. Để nét chữ thực sự là nết người, hãy để trẻ em tự phát triển theo đúng tính cách của mình. Không một ai là giống nhau hoàn toàn, vì thế đừng bắt mọi ngưofi phải “đá chữa a lên cao một ly, chữ h thì hai ly…”

Câu chuyện viết chữ đẹp bây giờ đã mang tầm quốc gia, tạo thành những phong trào, những cuộc thi đua. Từ một câu chuyện về điểm số, ví dụ về việc khuyến khích học sinh viết chữ đẹp bằng điểm, bây giờ nó đã trở thành một convention wisdom ở tầm quốc gia. Đến nổi, vài tờ báo đăng những bài viết tha thiết đặt câu hỏi “tại sao học sinh bây giờ viết chữ xấu quá?” Tại sao học sinh không thể viết chữ xấu ?

Chữ Trinh của người con gái cũng đã là một conventional wisdom hàng trăm năm nay. Trinh đồng nghĩa với ngoan, và ngược lại mà chẳng mảy may đưa ra một lý lẽ nào hùng hồn. Người nghe, chấp nhận những điều ấy như là chân lý và “ném đá thẳng tay” vào mặt những cô gái lỡ mất “cái nghìn vàng.”

Vậy đấy, nếu ta chấp nhận một số điều hiển nhiên là sự thật, bất kể điều đó chẳng hề có một chút ý nghĩa gì, chúng ta sẽ tự mình là nô lệ của sự lười biếng ý thức. Cũng như phụ nữ là nô lệ của chữ trinh. Và, học sinh (như tôi :P) là nô lệ của những cuộc thi viết chữ đẹp vô thưởng vô phạt.

Permalink Leave a Comment

Những bức tường

November 28, 2009 at 9:12 am (1)

Từ bức tường Berlin đến những bức tường tiếp theo sẽ đổ, có cảm tưởng rằng những thay đổi, những sự đổi mới sẽ đều đem lại những vết đau không tránh khỏi. Điều đó cũng như việc chúng ta tự cắt một cái u trên cánh tay hay bắp đùi. Nhìn một bức tường sụp đổ để hàn gắn hai ý thức hệ bị chia rẽ cũng na ná như cắn răng nhịn một vết đau để tin vào ngày mai tốt đẹp.

Những ngày qua người ta nói nhiều về sự nhẫn tâm của những người làm luật trong vụ án Nông trường Sông Hậu. Giọt nước mắt lăn dài, hay những lời khảng khái “chấp nhận đi tù” vì bà giám đốc càng làm sau thêm vết cắt tự mình gây ra. “Tự” không phải là bà Sương gây ra. “Tự” chính là chúng ta, vì cả một lợi ích lâu dài ở trước mắt. Nói cách khác, việc chối bỏ một biểu tượng, một mô hình của chế độ cũ, cho dù bằng một cách hơi nhẫn tâm, chính là tự tay phế bỏ những tàn dư sót lại của chế độ đó.

Nông trường Sông Hậu là một biểu tượng của chủ nghĩa xã hội rất nhiều năm trong quá khứ. Bà Sương được tuyên dương trên khắp đất nước và trên thế giới vì đã lãnh đạo một mô hình tiêu biểu của chủ nghĩa xã hội. Nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa tự hào tự hào với mô hình ấy bởi vì không đâu trên đất nước (và có lẽ) trên cả thế giới ngoài nông trường của bà Sương; chủ nghĩa xã hội tư duy tập thể lại đúng đến thế. Lần đầu tiên, người ta tìm ra một mô hình hợp tác xã hay nông trường quốc doanh lại có thể sinh lời và phát triển vững mạnh. Và nghiễm nhiên, người ta tìm thấy ở Nông trường Sông Hậu một nơi để ý chí và tư duy tập thể bám trụ và cảm thấy đúng.

Một biểu tượng thành công không thể cứu một cho một tư duy sai lầm, cho dù thành công ấy có xuất phát từ cách tư duy ấy. Một điển hình cá nhân đại diện cho tập thể không thể làm mẫu số chung cho một tập thể (xã hội) với những người đang suy nghĩ cho cá nhân. Điều căn bản nhất cho một nền kinh tế đó là việc mỗi người phải biết mưu cầu hạnh phúc và lợi ích của chính mình. Nếu như mỗi người đều thành công trong việc làm những công việc có ích trên hết cho bản thân họ, xã hội tất nhiên sẽ tiến bọ. Vai trò của chính quyền không phải “nhân danh” một giai cấp nào đó hoặc cho cả một xã hội, chính quyền trước trước hết phải cung cấp những công cụ thiết yếu nhất để người dân có thể tự mưu cầu hạnh phúc cho mình.

Trong vấn đề Nông trường Sông Hậu, người ta chấp nhận xóa bỏ một biểu tượng thiêng liêng để khẳng định lòng tin của mọi người rằng cái thời của một người phải hy sinh để làm những việc có lợi cho người khác đã qua. Đã chẳng có một bức tường bị đổ bỏ, nhưng sự sụp đổ của một mô hình như Nông trường Sông Hậu cũng có ý nghĩa tượng trưng tương tự như thế. Một sự sụp đổ cần thiết của một cách nghĩ, cách làm, có lẽ là hay nhưng bây giờ đã quá lạc hậu.

Permalink Leave a Comment

Những nơi tôi thuộc về…

October 1, 2009 at 3:26 am (My World)

Những gì thuộc về ký ức, sẽ không bao giờ bị lãng quên. Thỉnh thoảng, phóng xe một mình trên những con đường cao tốc vắng vẻ, tôi tự cho những ký ức ùa về tựa như những cơn gió đêm mát lạnh. Tôi là một người xê dịch. Vì thế, những gì tốt đẹp nhất giữ lại trong tôi là những chuyến đi và những con đường. Tuổi trẻ chỉ có một lần để được cháy, nên tôi bắt mình cháy trọn vẹn, với những đam mê, hoài bão của mình. Những buổi trưa nắng cháy da phóng xe dọc ngang trên những con đường biển ở Nha Trang. Những buổi đêm dạo chơi bên những bến cảng ở New York… New York, San Francisco, Nha Trang, và những chuyến đi, tôi yêu tất cả vì đó là một phần của cuộc đời tôi…

Đến bây giờ, mỗi khi nhìn thấy biển tôi lại nhớ đến Nha Trang. Thật sự, Nha Trang là một thành phố đầy mê hoặc, một thành phố mà ta có thể yêu từ lần đầu tiên đặt chân đến. Nha Trang năng động và màu sắc, nhưng không quá ồn ào như Sài Gòn. Những ai tìm kiếm xa hoa và ồn ào, có thể tìm tới Sailing club, Lousiana bar. Ban đêm, những con đường luôn đầy đủ ánh đèn đô hội và tài tử giai nhân. Còn nếu cần bình yên, những phút một mình, bỏ lại tiếng ngựa xe như tiếng nện sau lưng, tôi lại tìm về bên những ly cà fê, khung cửa sổ. Nha Trang cũng lắm lãng mạn và hiền lành, nhưng lại không quá tẻ ngắt như Đà Lạt. Nha Trang có những con đường “đẹp như yêu” (mượn của bạn RK 1 tí nhá), với hoa vang nở rực hai bên đường và hàng cây tỏa bóng mát. Đạp xe giữa lòng Nha Trang như đi dạo chơi giữa những khúc nhạc phố thị, lòng vơi vơi nhẹ như một dấu giáng kế liền một nốt nhạc cao…

Miền nam California cũng có một dải bờ biển trải dài. Tôi nói nó là một dải lụa đẹp che chắn một cái cổ khô cằn. Miền nam California khô lắm, chỉ toàn là sa mạc sỏi đá và cát. Những bãi biển xanh tười, nắng vàng, nâng bước cho những chuyến lang thang của tôi. Và, lan man một  hồi, tôi cũng chỉ muốn nói về Santa Barbara, thành phố mà tôi cũng đã yêu từ giây phút đầu tiên đặt chân đến. Santa Barbara là một sự kết hợp giữa Nha Trang và Đà Lạt. Những bãi biển cát trắng, những quán cà fê vỉa hè làm tôi nhớ đến Nha Trang bao nhiều thì những ngôi nhà cổ kính, khí trời lành lạnh và sự lãng mạn lại làm tôi nghĩ đến Đà Lạt. Santa Barbara có những phố đi bộ, người ta có thể đi trên đó, đắm mình trong cái hương cổ kính trầm lắng của nó. Những ngôi nhà mang đậm dấu ấn kiến trúc của nhiều thế kỷ trước gợi cho nó vẻ xa cách và kiêu hãnh với thế giới hiện đại bên ngoài. Đến như cái chòi bán bánh của McDonald cũng vẫn phải khoác lên mình bộ áo xưa cũ để khỏi thấy mình kệch cỡm giữa một thành phố cỏ kính và lãng mạn…

Cổ kính và lãng mạn là Santa Barba, còn San Francisco thì chỉ là lãng mạn, nhưng là tất cả những điều lãng mạn gộp lại. San Francisco đẹp là thế, ai về rồi cũng phải than “I left my heart in SF”.  San Francisco ngoài cầu cổng vàng, ngoài Chinatown, là những điều thú vị, là lạ. Đó là việc lái xe trên những con đường dốc trên dưới 45 độ, những con đường khi đứng trên đỉnh nhìn lại sẽ thấy những chiếc xe tải to lớn đến vậy trông như những dấu chấm đủ màu. Còn là việc bước đi trên những con phố mua sắm, phải khoanh hai tay sát ngực để tránh gió lùa vào ngực, mặc dù lúc ấy mùa hè ở L.A vẫn chưa thôi oai bức. Còn là những sự hối hả, tấp nập đáng yêu của một nhịp sống đô thị. San Francisco vẫn con giữu lại những chiếc xe điện, từ vài chục năm về trước chay trong thành phố. So với xe bus, nó cũng chỉ như những cỗ xe ngựa kéo, nói chi đến những chiếc xe hơi mới cóng tân kỳ. Có lần, tôi nhìn thầy một chàng thanh niên, trễ một chuyến xe điên đã chạy thục mạng để đuổi theo trước khi nó kịp lên dốc. Rất may là “cỗ xe ngựa” ấy cũng chạy chẳng nhanh lắm và chàng trai cũng đã đuổi kịp. Vui vui, thì ra cũng còn những đô thị hiện đại chấp nhận những sự chậm chạp, trễ nẻo. Có khi, tôi cũng cần phải sống chậm, trễ nải…tôi lại hẹn hò với SF.

SF đáng yêu và hào phóng với thời gian bao nhiêu, thì New York lại là một kẻ hà tiện thời gian nhất mà tôi từng gặp. Nếu tôi mượn gã một phút đồng hồ, tôi lại phải nhanh lên một tiếng đồng hồ. New York chạy không nghỉ, như một chiếc đồng hồ.  Những ngày rong ruổi ở New York, tôi chỉ biết bước nhanh thật nhanh dù…chẳng có gi để vội. Bởi vì, bước chậm, có nghĩa là ta bỉ bỏ lại sau lưng, cũng như là thành phố này, từ cây đèn đỏ đến chiếc xe bus, chẳng có cái gì là chờ ta. Sau suốt những ngày rong chơi, chân của tôi đau như thể tôi đã đi bộ suốt 10 năm cộng lại, nhưng chẳng bao giờ tiếc, bởi vì tôi đã sống nhanh hơn cái tốc độ mà cuộc đời tôi đang bước, tôi đã chẳng bỏ phí một giây phút nào của New York. Tôi yêu New York vì nó là tuổi trẻ. Tôi yêu cái nguồn năng lượng bất tận trong nó. Những buổi sáng, với một ly expresso đen sóng sánh, tôi cũng chỉ mong mình đủ năng lượng để sống thật gấp, thật nhanh như những ngày ở New York…

Những ký ức về những thành phố tôi yêu lúc nào cũng rõ và cũng đẹp như vậy. Ngày nào đó tôi sẽ trở lại, hoặc không, nhưng mà tùy những ngày tôi đang sống: chậm, nhanh, yên bình và lãng mạn, tôi lại biết mình đang ở đâu, SF, New York, Santa Barbara hay Nha Trang trong cuộc đời của tôi…

Permalink 1 Comment

Tình yêu, những câu chuyện kể

September 19, 2009 at 8:24 am (My World)

Tình yêu thì chỉ có một, còn những thứ na ná như tình yêu thì nhiều vô số kể. Có ai đó đã từng nói với tôi như vậy. Và, những câu chuyện về tình yêu, nó cũng lan man, cũng lãng đãng như một cơn gió mùa thu, hay đôi khi lại như tâm hồn của một kẻ đang yêu. Trời đã sang thu, lá vàng đã ngả, và cuộc đời đã trải qua những tuổi đời mới lạ. Lan man…

Có những cuộc tình bắt nguồn từ những cái nhìn đầu tiên. Người ta gọi là “sét đánh”. Sét đánh, tại sao lại có thể dùng một từ gợi hình thô thiển đến vậy để tả về cái thứ tình yêu cao đẹp nhất này ? Tôi thích gọi là “những cuộc tình sắp đặt”. Ai sắp và ai đặt ? Tôi chẳng biết. Nhưng tôi tin vào duyên số, vào phận, vào những sự tình cờ. Có lần, nhìn thành phố tôi đang sống, tấp nập, điện, đường, xe từ trên cao. Thấy cuộc đời là những con đường lộn xộn như vậy. Những con đường chạy dụa vào định hướng của số phận, vào những sự sắp đặt nằm ngoài tầm điều khiển của chúng ta. Và trong cái tỉ lệ một trên vài phần ngàn những con người, những số phận có liên quan đến cuộc đời của ta, ta lại gặp người ấy. Cái này lại giống trò chơi kính vạn hoa. Bông hoa mà ta thấy đẹp nhất trong cuộc đời, sẽ chỉ một lần xuất hiện…Nếu ai đã gặp một lần, thì xin chúc mừng.

Và cũng có những tình yêu lãng mạn nhất lại bắt nguồn từ những điều không lãng mạn nhất. Từ những nỗ lực đáng khen ngợi của một phía, và từ những dửng dưng, lạnh lùng của một phía. Giữa một người luôn nghĩ rằng người luôn nghĩ rằng người đó đã là người đẹp/tốt/thông minh nhất trong cuộc đời; và một người luôn nghĩ rằng sẽ luôn có những ẩn số, những lựa chọn tốt hơn đâu đó trong cuộc đời. Hai cuộc đời, hai suy nghĩ khác nhau, xa xôi nhau. Họ yêu nhau bằng lý trí. Lý trí bịt mắt một người để người đó chỉ thấy người còn lại là đẹp nhất. Và cũng chính lý trí đã dẫn trái tim một người ra xa hơn những cảm xúc yêu bình thường, mộng mơ về một người xa xăm hoàn hảo. Đến một ngày, họ thấy họ cần nhau, những trái tim cần nhau thật sự vì một sự chở che. Và tình yêu thăng hoa…

Hoặc có khi tình yêu cũng đến từ những điều giản dị. Những điều nhỏ là hạt mầm cho một bông hoa đẹp bắt đầu nở. Cuộc đời không đến nỗi quá khô cằn để những hạt mầm chẳng bao giờ lớn lên. Nó cũng chẳng bao giờ là một mảnh đất quá tốt tươi để người ta không cần mất quá nhiêu công chăm sóc mà cũng có ngày hái quả. Hãy thôi nói về những tình yêu thời vụ, lớn lên và biến mất đi trên cuộc đời này như một ngọn cỏ khô. Những thứ tình yêu như vậy, nó cũng nhiều như cỏ vậy, và những bông hoa của nó cũng chẳng bao giờ quá tươi đẹp. Bông hoa đẹp nhất cũng là bông hoa đã trải qua những giận\hờn\mất mát… nuôi dưỡng bằng những sự động viên sẻ chia, quan tâm. Hãy bắt đầu từ những điều giản dị…

Tình yêu chỉ có một, nhưng nó muôn màu. Những câu chuyện lan man cũng vậy, nó sẽ chẳng bao giờ hết. Bài viết này cũng sẽ chẳng bao giờ hết. Vì nó viết về tình yêu. Mà chẳng ai lại đặt một dấu chấm hết tàn nhẫn như vậy cho những câu chuyện tình…

Permalink Leave a Comment

Xem premiership luan ban chuyen tam quoc

April 23, 2009 at 10:05 pm (Football)

Nhớ lúc trước, khi giải ngọai hạng Anh chưa khai cuộc, đoán mò cũng trúng rằng chức vô địch chỉ nằm trong tay một trong ba đội Chelsea, Arsenal và MU. Mùa này, MU đã bỏ xa Chelsea 8 điểm, Arsenal 18 điểm. Có vẻ như năm nay là năm của MU, cũng nhu năm vừa rồi là năm của Chelsea vậy. Cho dù mạnh yếu từng thời điểm khác nhau, nhưng không thể phủ nhận rằng MU, Chelsea và Arsenal đã tạo ra một thế chân vạc để cai trị bóng đá Anh. Và nhắc đến “thế chân vạc” thì sẽ rất là thiếu sót nếu không đề cập đến thời Tam Quốc. Đôi khi, 2 cái chuyện chẳng ăn nhập gì với nhau ấy lại cho ta những so sanh thú vị.

Ngày xưa, Khổng Minh tuyệt trí, Quan Công tuyệt trung, Lưu Bị tuyệt đức, Tào Tháo tuyệt gian. Là gian hùng, nhưng không thể phủ nhận rằng ngòai một Khổng Minh đã được thần thánh hóa, thì chính Tào Tháo là nhân vật tài trí nhất lúc ấy. Nếu coi cuộc chơi của bóng đá Anh là một thời “Tam quốc” mới, thì Tào Tháo của thời này thì không thể ai khác ngoaìi Mourinho. Dân Trung Nguyên ghét họ Tào bao nhiêu thì bây giờ Mourinho, ở đất nước Anh, là kẻ thù số 1. Nếu có 1 cuộc bầu chọn danh hiệu “HLV đáng ghét nhất” thì Mourinho chắc chắn là ứng cử viên số 1. Nhưng Tào Tháo, dù có bị ghét đến mấy cũng dựng nên cơ nghiệp nước Ngụy hùng mạnnh – có lẽ là mạnh nhất trong 3 chư hầu – thì Tào Tháo Mourinho cũng đã biến Chelsea thành một quyền lực mới của bóng đá Anh. Tài năng của Mourinho là không thể bàn cãi, bởi vì chỉ có ông mới có đủ bản lĩnh, tài năng để biến túi tiền không đáy của Chelsea thành những danh hiệu. Ngày xưa, Tào Tháo chết vì quá đa nghi, liệu Mourinho có bị sự kiêu ngạo của mình trừng phạt ? Hãy hỏi Wenger và Ferguson !

Có những sự so sánh hóa ra khập khiễng, nhưng đôi khi những sự so sánh lại mang đến cho ta những điều bất ngờ thú vị. Nói về nước Thục ngày xưa và Arsenal ngày nay, có những sự trùng hợp đến lạ thường. Đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa, ai ai cũng phải say mê cách bài binh bố trận như thần của thừa tướng Gia Cát Lượng. Binh tướng được cắt đặt đâu vào đó, quân giặc cứ thế mà tiến vào, thế là dính bẫy; cứ như thể Khổng Minh đã được nhà trời cho biết trước mọi việc rồi đấy. Binh pháp ngày xưa, Khổng Minh là số một; ngày nay chẳng ai có thể hơn ngài Wenger khoản đó. Nhìn các cầu thủ Arsenal đá bóng như thuộc lòng mọi bước chạy rồi và cứ thế vừa nhắm mắt vừa đá cũng đưa được bóng vào lưới. Nhưng định mệnh thường trêu tức kẻ có tài, đôi khi chứng kiến các chiến binh Arsenal tiến công như vũ bão, những đường chuyền chính xác đến mm, tỉa bóng, lừa bóng như chỗ không người rồi sút lên trời ta thấy tức tức mà cũng buồn cười thế nào. Khổng Minh thua trận chỉ biết ngẩng đầu lên trời mà than “Mưu sự tại nhân, thành sự tài thiên”, Wenger thua trận, lắc đầu ngao ngán “Mưu sự tại nhân, hư sự tại cầu thủ.”

Đã điểm qua 2 ông kẹ, bây giờ chỉ còn Đông Ngô Manchester United. Không phải vì Arsenal là Thục, Chelsea là Nguỵ thì đương nhiên Man United là Đông Ngô. Ngày xưa, những nét đặc trưng đã tạo ra một Đông Ngô ngày xưa cũng đã góp phần tạo nên bản sắc của một Man United ngày nay, chỉ có điều những bản săc ấy đã biến đổi đi để phù hợp với môn bóng đá của chúng ta. Ai đã đọc Tam Quốc rồi cũng đều biết món đặc sản của dân Ngô đó là thuỷ chiến. Tào Tháo thua đau tại xích bích trước Ngô Quyền cũng bời chữ “Thuỷ” oan nghiệt. Trên sân cỏ, ngoại trừ những lúc trời mưa ra, có tí nước nào để thuỷ chiến đâu ? Cái đặc sản của MU cũng có một chữ “chiến” như thế, nhưng là không chiến. Trong cái làn sóng la tinh hoá trong các đại gia của bóng đá Anh, MU là đội giữ lại được nhiều bản sắc Anh nhất. Đó là tạt cánh đánh đầu. Phòng thủ giỏi cũng nhờ vào hàng phòng ngự chóng bóng bổng cực tốt, trên mặt trận tất công, những bàn thắng bằng đầu nhiều vô kể. Ngoài ra còn phải kể đến cái sự tương đồng về địa lý. Sông Trường Giang nước Ngô có hai bờ tả hữu. Old Trafford nước Anh chỉ có 2 cửa sinh tử. Đi vào thì sinh, đi về thì tử.

Có lẽ, cái thế chân vạc của bóng đá Anh sẽ rất lâu nữa mới bị xoá bỏ. Ngày xưa, có Tấn vương Tư Mã Viêm đã thu xã tắc về một mối. Biết đâu, một ngày đẹp trời nào đó, ta lại chưng kiến 3 ông lớn ghen tức đứng nhìn Everton hay West Ham chăng hạn nâng cao chiếc cúp vô địch. Cứ chờ thử xem !

Permalink Leave a Comment

Mắt thủy tinh

April 23, 2009 at 10:02 pm (My World)

“Để nắng đi vào trong mắt em…”

Nhẩm đi nhẩm lại một lời hát của Trịnh Công Sơn và tự hỏi rằng màu “Nắng thủy tinh” của Trịnh Công Sơn có trùng với màu nắng mà tôi đang yêu ?

Có lẽ không. Bởi vì Trịnh Công Sơn thích nhìn nắng đi vào những đôi mắt. Còn tôi, tôi thích nhìn những tia nắng từ đấy đi ra mặc dù cả hai thứ cùng chia sẻ nhau một chữ thuỷ tinh, nắng màu thuỷ tinh và nắng bước ra từ những đôi mắt thủy tinh. Màu nắng tôi yêu, nó lấp lánh hai lần dưới lăng kính thủy tinh em nhìn cuộc đời pha lê. Tôi đã từng bị chói mắt bởi sắc nắng ấy. Đó là một buổi trưa hè, khi những hạt nắng là những sợi tóc trời được ai đó treo bất tận trên khoảng không cao tít, đi vào đôi mắt thuỷ tinh và được đôi mắt ấy trả ngược lại cho mắt tôi, đầy đủ chói chang và một nụ cười. Tôi ngẩn ngơ, và phải chăng tôi đã gặp màu nắng đẹp nhất ? Từ đó tôi trở thành một người săn một ảo giác lộng lẫy tạo ra từ những đôi mắt thủy tinh, mà một lần tôi được chứng kiến đã làm những hạt nắng lạc đường.

Tôi đã từng nghĩ những đôi mắt thuỷ tinh là những đôi mắt không biết buồn. Đó có thể là một non dại, luôn gán lên thứ mình yêu những điều giản dị hoàn hảo. Hoặc cũng có thể những đôi mắt ngân ngấn ấy biết giấu những nỗi buồn sau những tươi vui. Và những nỗi buồn, lướt qua đôi mắt chỉ như những cái gợn, hoặc như một hạt sương bé nhỏ chẳng làm mờ nổi môt buổi bình minh… Những nỗi buồn ấy thích chơi trốn tìm với những cái nhìn âu yếm. Có lần tôi đã bắt gập nó, đang trốn giữa những hang mi, chớp mắt, dừong như nó đã biến mất nơi đường chân chim. Một khoảnh khắc quá ngắn để một đôi mắt trần hay một linh hồn đang đi lạc có thể lưu vào ký ức. Tôi biết rằng, để nhìn một đôi mắt thuỷ tinh, tôi phải nhìn kỹ hơn, vì như một viên pha lê huyền diệu, có cả một thế giới bên trong ấy…

Mắt thuỷ tinh không khóc, đôi khi chỉ là ướt mi

Mắt thuỷ tinh biết giấu những khoảng đen sau những khoảng đầy ánh sang

Mắt thuỷ tinh long lành và cũng mỏng manh dễ vỡ

Mắt thuỷ tinh lấp lánh bao nhiêu phần của niềm tin ?

Và mắt thuỷ tinh luôn biết cười…

Permalink 4 Comments

Bình Yên

April 23, 2009 at 10:02 pm (Music)

Quốc Bảo đã từng nói rằng âm nhạc của anh “đi từ lãng mạn đến phản lãng mạn”. Nếu ta xếp từng album của anh lên một thang bậc, đi từ lãng mạn đến bão tố và trực diện thì “Bình yên” nằm ở mốc số không, tức là lửng lơ giữa những ca từ nuột nà của “Ngồi hát ca bềnh bông” & “Vàng Son” và sự già dặn của kẻ trải đời trong “Những chuyện kể” và “V”. “Bình Yên” nằm ở giữa ấy, như một vùng giao hoà mà hai thái cực trái ngược nhau hoàn toàn ấy có thể sống chung với nhau, hoặc như một vùng tranh chấp mà những giằng xé nột tâm đang giành giật nhau những khoảnh khắc sống, cũng có thể là một di tích nơi gồm có cả nhưng tàn phải của sự lãng mạn đã từng cháy trong lòng tác giả và cả những cô độc đang dần dần bao vây tầm hồn của anh. Và những cái đấy, giằng xé, bất an và cô độc đã đi từ đời sống của anh để vào nhạc, vậy mà những tính từ vốn dĩ chỉ tạo nên những sự trắc trở lại là những nguyên liệu thô để anh xây nên “Bình Yên”…

Quốc Bảo tạo ra “Bình Yên” nhưng bình yên không phải của anh. Anh đã thừa nhận rằng anh đã tạo ra nó như một tiếng thét của một tâm hồn trống rỗng đang khao khát bình yên đến cùng cực. Một cuộc hôn nhân trong bế tắc, những màn đánh hội đồng của đồng nghiệp và báo giới, anh đã rút lui khỏi những bon chen, lặng lẽ đến nỗi người ta cứ nghĩ là họ đã đánh sập được tâm hồn được xây bằng kính của anh. Lúc ấy, anh đã viết Bình Yên. Ngày Bình Yên ra mắt cũng chính là ngày Quốc Bảo trở lại. Và cái tên Bình Yên ấy là quá ấn tượng cho một người chỉ mới vừa “tai qua nạn khỏi”…

Khi album Bình Yên bước lên kệ đĩa, người nghe chọn lấy Bình Yên để nghe thử và bị chính cái trạng thái bình yên mà bài hát tạo ra thuyết phục. Bình Yên do Trần Thu Hà và Trần Hiếu thể hiện không chỉ mang cho ta cảm giác ấy, dường như nó đang định nghĩa lại cụm từ này.

Giọng ca mộc mạc và mỏng của Trần Thu Hà mở ra bài hát và mở ra cho chúng ta một không gian. Trần Thu Hà như đang ngồi giữa một khoảng lặng bao la, những tiếng đàn dập dềnh nhưng cất lên một cách thanh thản. Ta có cảm tưởng như ta đang nhìn Trần Thu Hát hát chứ không phải đang nghe cô hát, có cảm tưởng như không gian thanh thản ấy được giấu đi trong bài hát này, và ta tìm ra nó như tìm một kho báu đã không còn tồn tại trên thế giới này. Ta còn thấy cả những nốt nhạc đang bay giữa khoảng không, vì những nốt nhạc ấy, vốn dĩ đã không mang trong mình một gánh nặng nào lại mang thêm cả sự thanh thản vào mình. Và ngay cả tâm hồn chúng ta, khi nhẹ nhàng, rồi cũng sẽ bay lên. Ta đã có được chữ “Bình”.

Trần Thu Hà đã tạo ra một không gian tĩnh lặng và êm đềm thì Trần Hiếu làm cho không gian ấy thêm ấm. Nếu như cái không gian của Trần Thu Hà cho ta một cảm giác an toàn của thời gian đang ngừng chảy thì Trần Hiếu lại tô thêm vào cái cảm giác an toàn ấy bằng sự che chở. Chất giọng trầm và cách xử lý điêu luyện của Trần Hiếu đã bao bọc sự mỏng manh của Trần Thu Hà một cách hoàn hảo. Cái cảm giác bình yên lúc này trong tâm hồn mỗi người không chỉ là sự tĩnh lặng cần thiết để lắng đọng mà còn là một sự bình yên như đang được ai đó che chở, như đang dựa đầu vào vai của ai đó, như một đồi bàn tay thô ráp đang nắm chặt và truyền hơi ấm cho môt bàn tay mềm mại. Bởi thế, tôi đặc biệt thích cái version này của Bình Yên. Những người hát cặp với Mai Khôi và Hồng Nhung dù đã cố gắng vẫn không thể tạo ra một cảm giác bền vững và tin cậy.

Bình Yên không chỉ là “bình”, nó còn cần đến một chữ “yên”, là một nơi không chỉ ta tìm thấy sự thanh thản mà cả sự vững chải và yên tâm mỗi khi tìm về. Ngày ấy, ta chưa có “bình” nhưng đã biết được cảm giác của từ “yên” từ gia đình thân yêu. Bây giờ ta đã có “bình”, biết ngày nào mới trở về được với chữ “yên” ấy ?

Permalink 3 Comments

Đỏ Trắng Xanh

April 23, 2009 at 10:00 pm (Movie, Politics)

Đỏ, Trắng, Xanh. Đó là ba màu tạo nên một giấc mơ chưa dứt, đã bắt đầu từ vài thế kỷ trước và không biết đến bao nhiêu thế kỷ sau mới dứt. Có lúc, nó nuôi con người trong những hy vọng rạng ngời, và cũng có lúc nó mang cho con người những cay đắng và thất bại. Đến bây giờ, nhìn về phía lịch sử, một cách ngẫu nhiên, ba màu đấy lại mang trong mình nó những hy vọng mà những người mang giấc mơ ấy gửi vào. Có một màu đỏ, không phải màu đỏ của chiến thắng, mà của một thất bại cay đắng, đau đớn hơn, lại trước một màu “Đỏ” khác. Màu xanh của những niềm hy vọng và màu trắng của ước vọng tự do. Vâng, tôi đang nói về American Dream.

Thật ra American Dream không phải là một cụm từ ghép của American và Dream. Bây giờ, nó đã trở thành một khái niệm được dùng khá nhiều trong văn chương và cuộc sống hằng ngày. American Dream chính thức xuất hiện vào năm 1931, trong một tác phẩm của James Truslow Adams gọi là The Epic of America. Ở đó tác giả đã miêu tả American Dream như là một giấc mơ về một vùng đất hứa với một cuộc sống no ấm và đầu đủ và là nơi mà con người được hưởng những thành quả xứng đáng khả năng và sức lao động của mình. Nhưng không hẳn đến năm 1931, con người mới bắt đầu mơ về American Dream, nó đã một phần nào được nói đến trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (“mọi người được sinh ra có quyền bình đẳng..”). Và trong khoảng thời gian của hai cuộc thế chiến, American Dream được mang theo bởi những người châu Âu di cư. Còn ngày nay, nói về American Dream, người ta lại nhắc đến dòng người châu Á nhập cư vào nước Mỹ, với một khát vọng đổi đời cháy bỏng. Nhưng, có phải thật sự vậy không ?

Nhân vật Daniel Plainview trong bộ phim đoạt giải Oscar There will be blood là một tuýp người đi tìm giấc mơ tiêu biểu. Giấc mơ ấy được thể hiên qua những tham vọng và âm mưu để leo lên nấc thang cao nhất của sự giàu có. Một điều đáng chú ý là bộ phim được lấy bối cảnh ở tiểu bang California, nơi được mệnh danh là The Gold State hay là The Dream State của nước Mỹ. Rốt cuộc Daniel Plainview cũng đã biến American Dream của mình thành hiện thực. Một cơ ngơi vững chắc, một ngôi nhà sang trọng, những người hầu… và một gia đình tan vỡ. Đó chính là một con đường thành công chung và cả một con đường bất hạnh chung của những American Dream… Bi kịch lớn nhất của một American Dream, là khi người ta quá mải mê tìm những thứ xa vời như tiền bạc, danh vọng để rồi khi nhìn lại họ lại tiếc nuối vì đã mất một thứ căn bản nhất của con người: tình cảm…

Trong The Godfather, Bố già Vito Corleone cũng ôm trong mình một American Dream điển hình. Ông từ bỏ một quê hương, một xứ sở đang chìm ngập trong bạo lực và thù hận để đến nước Mỹ với hy vọng bắt đầu một cuộc đời mới, một con người mới, thoát xa khỏi sự ganh đua phe phái đang đầy rẫy ở Ý. Có vẻ như, về đoạn kết, Bố già đã hiện thực hóa giấc mơ của mình. Ông đã có một sự nghiệp vững vàng dựa trên một thứ công lý được ngầm quy ước theo lương tâm của một ông trùm, hơn là theo pháp luật của đất nước. Nhưng, có phải American Dream của ông đã được xây dựng trên một cái nền Tự do, bình đẳng mà ông mong đất nước này sẽ mang lại cho ông ? Cái tự do mà ông đáng lẽ ra được hưởng phải được ông dùng đến cả máu của mình và gia đình để giành lại từ những người mà nhiệm vụ của họ là cung cấp cho ông cái tự do ấy. Và sự bình đẳng, ông đã phải dùng đến tiền để mua lại nó, hơn là mong chờ những người được ông đưa hối lộ tạo ra cái bình đẳng ấy cho ông. Ông đã giành lại tự do, bình đẳng để thực hiên American Dream của mình bằng sức mạnh to lớn của ông. Còn những người, mà sức mạnh của họ không thể nào so sánh được với Bố già, họ sẽ làm sao khi trót mang trong mình giấc mơ ấy ?

Theo những gì được kể lại, vào giờ chót trước khi cuốn Gatsby vĩ đại được xuất bản, F.Fitzgerald đã quyết định đổi tên tác phẩm của mình thành Under the Red, White, Blue, ngụ ý nói về American Dream dang dở của nhân vật chính. American Dream của Gatsby chỉ đơn giản là có thật nhiều tiền để có thể cưới được người con gái mình yêu. Gatsby đã hoàn thành về mặt “tiền” và tưởng chừng như đã có thể hoàn thành trọn vẹn giấc mơ của mình. Rồi, đau đớn hơn tất cả đau đớn cộng lại, những gì mà ông đã gây dựng nên, tình yêu và thậm chí cả mạng sông của ông bị chấm dứt bởi chính người con gái ấy. Phần cuối cùng, thêm một bi kịch để chấm dứt một bi kịch dài là tại đám tang của Gatsby. Tất cả những người bạn, những người mà ông ngày nào cũng mời đến nhà đã dự tiệc và thậm chí người con gái ấy, đã bỏ rơi ông trong sự cô đơn lạnh lẽo của một cơn ác mộng.

Như đã nói, Đỏ, Trắng Xanh là của chiến thắng, tự do và hy vọng. Nhưng hãy nhớ, nhiều lúc nó lại là máu, sự buồn bã (blue) và cô đơn.

Permalink Leave a Comment

Next page »