Xem premiership luan ban chuyen tam quoc

April 23, 2009 at 10:05 pm (Football)

Nhớ lúc trước, khi giải ngọai hạng Anh chưa khai cuộc, đoán mò cũng trúng rằng chức vô địch chỉ nằm trong tay một trong ba đội Chelsea, Arsenal và MU. Mùa này, MU đã bỏ xa Chelsea 8 điểm, Arsenal 18 điểm. Có vẻ như năm nay là năm của MU, cũng nhu năm vừa rồi là năm của Chelsea vậy. Cho dù mạnh yếu từng thời điểm khác nhau, nhưng không thể phủ nhận rằng MU, Chelsea và Arsenal đã tạo ra một thế chân vạc để cai trị bóng đá Anh. Và nhắc đến “thế chân vạc” thì sẽ rất là thiếu sót nếu không đề cập đến thời Tam Quốc. Đôi khi, 2 cái chuyện chẳng ăn nhập gì với nhau ấy lại cho ta những so sanh thú vị.

Ngày xưa, Khổng Minh tuyệt trí, Quan Công tuyệt trung, Lưu Bị tuyệt đức, Tào Tháo tuyệt gian. Là gian hùng, nhưng không thể phủ nhận rằng ngòai một Khổng Minh đã được thần thánh hóa, thì chính Tào Tháo là nhân vật tài trí nhất lúc ấy. Nếu coi cuộc chơi của bóng đá Anh là một thời “Tam quốc” mới, thì Tào Tháo của thời này thì không thể ai khác ngoaìi Mourinho. Dân Trung Nguyên ghét họ Tào bao nhiêu thì bây giờ Mourinho, ở đất nước Anh, là kẻ thù số 1. Nếu có 1 cuộc bầu chọn danh hiệu “HLV đáng ghét nhất” thì Mourinho chắc chắn là ứng cử viên số 1. Nhưng Tào Tháo, dù có bị ghét đến mấy cũng dựng nên cơ nghiệp nước Ngụy hùng mạnnh – có lẽ là mạnh nhất trong 3 chư hầu – thì Tào Tháo Mourinho cũng đã biến Chelsea thành một quyền lực mới của bóng đá Anh. Tài năng của Mourinho là không thể bàn cãi, bởi vì chỉ có ông mới có đủ bản lĩnh, tài năng để biến túi tiền không đáy của Chelsea thành những danh hiệu. Ngày xưa, Tào Tháo chết vì quá đa nghi, liệu Mourinho có bị sự kiêu ngạo của mình trừng phạt ? Hãy hỏi Wenger và Ferguson !

Có những sự so sánh hóa ra khập khiễng, nhưng đôi khi những sự so sánh lại mang đến cho ta những điều bất ngờ thú vị. Nói về nước Thục ngày xưa và Arsenal ngày nay, có những sự trùng hợp đến lạ thường. Đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa, ai ai cũng phải say mê cách bài binh bố trận như thần của thừa tướng Gia Cát Lượng. Binh tướng được cắt đặt đâu vào đó, quân giặc cứ thế mà tiến vào, thế là dính bẫy; cứ như thể Khổng Minh đã được nhà trời cho biết trước mọi việc rồi đấy. Binh pháp ngày xưa, Khổng Minh là số một; ngày nay chẳng ai có thể hơn ngài Wenger khoản đó. Nhìn các cầu thủ Arsenal đá bóng như thuộc lòng mọi bước chạy rồi và cứ thế vừa nhắm mắt vừa đá cũng đưa được bóng vào lưới. Nhưng định mệnh thường trêu tức kẻ có tài, đôi khi chứng kiến các chiến binh Arsenal tiến công như vũ bão, những đường chuyền chính xác đến mm, tỉa bóng, lừa bóng như chỗ không người rồi sút lên trời ta thấy tức tức mà cũng buồn cười thế nào. Khổng Minh thua trận chỉ biết ngẩng đầu lên trời mà than “Mưu sự tại nhân, thành sự tài thiên”, Wenger thua trận, lắc đầu ngao ngán “Mưu sự tại nhân, hư sự tại cầu thủ.”

Đã điểm qua 2 ông kẹ, bây giờ chỉ còn Đông Ngô Manchester United. Không phải vì Arsenal là Thục, Chelsea là Nguỵ thì đương nhiên Man United là Đông Ngô. Ngày xưa, những nét đặc trưng đã tạo ra một Đông Ngô ngày xưa cũng đã góp phần tạo nên bản sắc của một Man United ngày nay, chỉ có điều những bản săc ấy đã biến đổi đi để phù hợp với môn bóng đá của chúng ta. Ai đã đọc Tam Quốc rồi cũng đều biết món đặc sản của dân Ngô đó là thuỷ chiến. Tào Tháo thua đau tại xích bích trước Ngô Quyền cũng bời chữ “Thuỷ” oan nghiệt. Trên sân cỏ, ngoại trừ những lúc trời mưa ra, có tí nước nào để thuỷ chiến đâu ? Cái đặc sản của MU cũng có một chữ “chiến” như thế, nhưng là không chiến. Trong cái làn sóng la tinh hoá trong các đại gia của bóng đá Anh, MU là đội giữ lại được nhiều bản sắc Anh nhất. Đó là tạt cánh đánh đầu. Phòng thủ giỏi cũng nhờ vào hàng phòng ngự chóng bóng bổng cực tốt, trên mặt trận tất công, những bàn thắng bằng đầu nhiều vô kể. Ngoài ra còn phải kể đến cái sự tương đồng về địa lý. Sông Trường Giang nước Ngô có hai bờ tả hữu. Old Trafford nước Anh chỉ có 2 cửa sinh tử. Đi vào thì sinh, đi về thì tử.

Có lẽ, cái thế chân vạc của bóng đá Anh sẽ rất lâu nữa mới bị xoá bỏ. Ngày xưa, có Tấn vương Tư Mã Viêm đã thu xã tắc về một mối. Biết đâu, một ngày đẹp trời nào đó, ta lại chưng kiến 3 ông lớn ghen tức đứng nhìn Everton hay West Ham chăng hạn nâng cao chiếc cúp vô địch. Cứ chờ thử xem !

Permalink Leave a Comment

Mắt thủy tinh

April 23, 2009 at 10:02 pm (My World)

“Để nắng đi vào trong mắt em…”

Nhẩm đi nhẩm lại một lời hát của Trịnh Công Sơn và tự hỏi rằng màu “Nắng thủy tinh” của Trịnh Công Sơn có trùng với màu nắng mà tôi đang yêu ?

Có lẽ không. Bởi vì Trịnh Công Sơn thích nhìn nắng đi vào những đôi mắt. Còn tôi, tôi thích nhìn những tia nắng từ đấy đi ra mặc dù cả hai thứ cùng chia sẻ nhau một chữ thuỷ tinh, nắng màu thuỷ tinh và nắng bước ra từ những đôi mắt thủy tinh. Màu nắng tôi yêu, nó lấp lánh hai lần dưới lăng kính thủy tinh em nhìn cuộc đời pha lê. Tôi đã từng bị chói mắt bởi sắc nắng ấy. Đó là một buổi trưa hè, khi những hạt nắng là những sợi tóc trời được ai đó treo bất tận trên khoảng không cao tít, đi vào đôi mắt thuỷ tinh và được đôi mắt ấy trả ngược lại cho mắt tôi, đầy đủ chói chang và một nụ cười. Tôi ngẩn ngơ, và phải chăng tôi đã gặp màu nắng đẹp nhất ? Từ đó tôi trở thành một người săn một ảo giác lộng lẫy tạo ra từ những đôi mắt thủy tinh, mà một lần tôi được chứng kiến đã làm những hạt nắng lạc đường.

Tôi đã từng nghĩ những đôi mắt thuỷ tinh là những đôi mắt không biết buồn. Đó có thể là một non dại, luôn gán lên thứ mình yêu những điều giản dị hoàn hảo. Hoặc cũng có thể những đôi mắt ngân ngấn ấy biết giấu những nỗi buồn sau những tươi vui. Và những nỗi buồn, lướt qua đôi mắt chỉ như những cái gợn, hoặc như một hạt sương bé nhỏ chẳng làm mờ nổi môt buổi bình minh… Những nỗi buồn ấy thích chơi trốn tìm với những cái nhìn âu yếm. Có lần tôi đã bắt gập nó, đang trốn giữa những hang mi, chớp mắt, dừong như nó đã biến mất nơi đường chân chim. Một khoảnh khắc quá ngắn để một đôi mắt trần hay một linh hồn đang đi lạc có thể lưu vào ký ức. Tôi biết rằng, để nhìn một đôi mắt thuỷ tinh, tôi phải nhìn kỹ hơn, vì như một viên pha lê huyền diệu, có cả một thế giới bên trong ấy…

Mắt thuỷ tinh không khóc, đôi khi chỉ là ướt mi

Mắt thuỷ tinh biết giấu những khoảng đen sau những khoảng đầy ánh sang

Mắt thuỷ tinh long lành và cũng mỏng manh dễ vỡ

Mắt thuỷ tinh lấp lánh bao nhiêu phần của niềm tin ?

Và mắt thuỷ tinh luôn biết cười…

Permalink 4 Comments

Bình Yên

April 23, 2009 at 10:02 pm (Music)

Quốc Bảo đã từng nói rằng âm nhạc của anh “đi từ lãng mạn đến phản lãng mạn”. Nếu ta xếp từng album của anh lên một thang bậc, đi từ lãng mạn đến bão tố và trực diện thì “Bình yên” nằm ở mốc số không, tức là lửng lơ giữa những ca từ nuột nà của “Ngồi hát ca bềnh bông” & “Vàng Son” và sự già dặn của kẻ trải đời trong “Những chuyện kể” và “V”. “Bình Yên” nằm ở giữa ấy, như một vùng giao hoà mà hai thái cực trái ngược nhau hoàn toàn ấy có thể sống chung với nhau, hoặc như một vùng tranh chấp mà những giằng xé nột tâm đang giành giật nhau những khoảnh khắc sống, cũng có thể là một di tích nơi gồm có cả nhưng tàn phải của sự lãng mạn đã từng cháy trong lòng tác giả và cả những cô độc đang dần dần bao vây tầm hồn của anh. Và những cái đấy, giằng xé, bất an và cô độc đã đi từ đời sống của anh để vào nhạc, vậy mà những tính từ vốn dĩ chỉ tạo nên những sự trắc trở lại là những nguyên liệu thô để anh xây nên “Bình Yên”…

Quốc Bảo tạo ra “Bình Yên” nhưng bình yên không phải của anh. Anh đã thừa nhận rằng anh đã tạo ra nó như một tiếng thét của một tâm hồn trống rỗng đang khao khát bình yên đến cùng cực. Một cuộc hôn nhân trong bế tắc, những màn đánh hội đồng của đồng nghiệp và báo giới, anh đã rút lui khỏi những bon chen, lặng lẽ đến nỗi người ta cứ nghĩ là họ đã đánh sập được tâm hồn được xây bằng kính của anh. Lúc ấy, anh đã viết Bình Yên. Ngày Bình Yên ra mắt cũng chính là ngày Quốc Bảo trở lại. Và cái tên Bình Yên ấy là quá ấn tượng cho một người chỉ mới vừa “tai qua nạn khỏi”…

Khi album Bình Yên bước lên kệ đĩa, người nghe chọn lấy Bình Yên để nghe thử và bị chính cái trạng thái bình yên mà bài hát tạo ra thuyết phục. Bình Yên do Trần Thu Hà và Trần Hiếu thể hiện không chỉ mang cho ta cảm giác ấy, dường như nó đang định nghĩa lại cụm từ này.

Giọng ca mộc mạc và mỏng của Trần Thu Hà mở ra bài hát và mở ra cho chúng ta một không gian. Trần Thu Hà như đang ngồi giữa một khoảng lặng bao la, những tiếng đàn dập dềnh nhưng cất lên một cách thanh thản. Ta có cảm tưởng như ta đang nhìn Trần Thu Hát hát chứ không phải đang nghe cô hát, có cảm tưởng như không gian thanh thản ấy được giấu đi trong bài hát này, và ta tìm ra nó như tìm một kho báu đã không còn tồn tại trên thế giới này. Ta còn thấy cả những nốt nhạc đang bay giữa khoảng không, vì những nốt nhạc ấy, vốn dĩ đã không mang trong mình một gánh nặng nào lại mang thêm cả sự thanh thản vào mình. Và ngay cả tâm hồn chúng ta, khi nhẹ nhàng, rồi cũng sẽ bay lên. Ta đã có được chữ “Bình”.

Trần Thu Hà đã tạo ra một không gian tĩnh lặng và êm đềm thì Trần Hiếu làm cho không gian ấy thêm ấm. Nếu như cái không gian của Trần Thu Hà cho ta một cảm giác an toàn của thời gian đang ngừng chảy thì Trần Hiếu lại tô thêm vào cái cảm giác an toàn ấy bằng sự che chở. Chất giọng trầm và cách xử lý điêu luyện của Trần Hiếu đã bao bọc sự mỏng manh của Trần Thu Hà một cách hoàn hảo. Cái cảm giác bình yên lúc này trong tâm hồn mỗi người không chỉ là sự tĩnh lặng cần thiết để lắng đọng mà còn là một sự bình yên như đang được ai đó che chở, như đang dựa đầu vào vai của ai đó, như một đồi bàn tay thô ráp đang nắm chặt và truyền hơi ấm cho môt bàn tay mềm mại. Bởi thế, tôi đặc biệt thích cái version này của Bình Yên. Những người hát cặp với Mai Khôi và Hồng Nhung dù đã cố gắng vẫn không thể tạo ra một cảm giác bền vững và tin cậy.

Bình Yên không chỉ là “bình”, nó còn cần đến một chữ “yên”, là một nơi không chỉ ta tìm thấy sự thanh thản mà cả sự vững chải và yên tâm mỗi khi tìm về. Ngày ấy, ta chưa có “bình” nhưng đã biết được cảm giác của từ “yên” từ gia đình thân yêu. Bây giờ ta đã có “bình”, biết ngày nào mới trở về được với chữ “yên” ấy ?

Permalink 3 Comments

Đỏ Trắng Xanh

April 23, 2009 at 10:00 pm (Movie, Politics)

Đỏ, Trắng, Xanh. Đó là ba màu tạo nên một giấc mơ chưa dứt, đã bắt đầu từ vài thế kỷ trước và không biết đến bao nhiêu thế kỷ sau mới dứt. Có lúc, nó nuôi con người trong những hy vọng rạng ngời, và cũng có lúc nó mang cho con người những cay đắng và thất bại. Đến bây giờ, nhìn về phía lịch sử, một cách ngẫu nhiên, ba màu đấy lại mang trong mình nó những hy vọng mà những người mang giấc mơ ấy gửi vào. Có một màu đỏ, không phải màu đỏ của chiến thắng, mà của một thất bại cay đắng, đau đớn hơn, lại trước một màu “Đỏ” khác. Màu xanh của những niềm hy vọng và màu trắng của ước vọng tự do. Vâng, tôi đang nói về American Dream.

Thật ra American Dream không phải là một cụm từ ghép của American và Dream. Bây giờ, nó đã trở thành một khái niệm được dùng khá nhiều trong văn chương và cuộc sống hằng ngày. American Dream chính thức xuất hiện vào năm 1931, trong một tác phẩm của James Truslow Adams gọi là The Epic of America. Ở đó tác giả đã miêu tả American Dream như là một giấc mơ về một vùng đất hứa với một cuộc sống no ấm và đầu đủ và là nơi mà con người được hưởng những thành quả xứng đáng khả năng và sức lao động của mình. Nhưng không hẳn đến năm 1931, con người mới bắt đầu mơ về American Dream, nó đã một phần nào được nói đến trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ (“mọi người được sinh ra có quyền bình đẳng..”). Và trong khoảng thời gian của hai cuộc thế chiến, American Dream được mang theo bởi những người châu Âu di cư. Còn ngày nay, nói về American Dream, người ta lại nhắc đến dòng người châu Á nhập cư vào nước Mỹ, với một khát vọng đổi đời cháy bỏng. Nhưng, có phải thật sự vậy không ?

Nhân vật Daniel Plainview trong bộ phim đoạt giải Oscar There will be blood là một tuýp người đi tìm giấc mơ tiêu biểu. Giấc mơ ấy được thể hiên qua những tham vọng và âm mưu để leo lên nấc thang cao nhất của sự giàu có. Một điều đáng chú ý là bộ phim được lấy bối cảnh ở tiểu bang California, nơi được mệnh danh là The Gold State hay là The Dream State của nước Mỹ. Rốt cuộc Daniel Plainview cũng đã biến American Dream của mình thành hiện thực. Một cơ ngơi vững chắc, một ngôi nhà sang trọng, những người hầu… và một gia đình tan vỡ. Đó chính là một con đường thành công chung và cả một con đường bất hạnh chung của những American Dream… Bi kịch lớn nhất của một American Dream, là khi người ta quá mải mê tìm những thứ xa vời như tiền bạc, danh vọng để rồi khi nhìn lại họ lại tiếc nuối vì đã mất một thứ căn bản nhất của con người: tình cảm…

Trong The Godfather, Bố già Vito Corleone cũng ôm trong mình một American Dream điển hình. Ông từ bỏ một quê hương, một xứ sở đang chìm ngập trong bạo lực và thù hận để đến nước Mỹ với hy vọng bắt đầu một cuộc đời mới, một con người mới, thoát xa khỏi sự ganh đua phe phái đang đầy rẫy ở Ý. Có vẻ như, về đoạn kết, Bố già đã hiện thực hóa giấc mơ của mình. Ông đã có một sự nghiệp vững vàng dựa trên một thứ công lý được ngầm quy ước theo lương tâm của một ông trùm, hơn là theo pháp luật của đất nước. Nhưng, có phải American Dream của ông đã được xây dựng trên một cái nền Tự do, bình đẳng mà ông mong đất nước này sẽ mang lại cho ông ? Cái tự do mà ông đáng lẽ ra được hưởng phải được ông dùng đến cả máu của mình và gia đình để giành lại từ những người mà nhiệm vụ của họ là cung cấp cho ông cái tự do ấy. Và sự bình đẳng, ông đã phải dùng đến tiền để mua lại nó, hơn là mong chờ những người được ông đưa hối lộ tạo ra cái bình đẳng ấy cho ông. Ông đã giành lại tự do, bình đẳng để thực hiên American Dream của mình bằng sức mạnh to lớn của ông. Còn những người, mà sức mạnh của họ không thể nào so sánh được với Bố già, họ sẽ làm sao khi trót mang trong mình giấc mơ ấy ?

Theo những gì được kể lại, vào giờ chót trước khi cuốn Gatsby vĩ đại được xuất bản, F.Fitzgerald đã quyết định đổi tên tác phẩm của mình thành Under the Red, White, Blue, ngụ ý nói về American Dream dang dở của nhân vật chính. American Dream của Gatsby chỉ đơn giản là có thật nhiều tiền để có thể cưới được người con gái mình yêu. Gatsby đã hoàn thành về mặt “tiền” và tưởng chừng như đã có thể hoàn thành trọn vẹn giấc mơ của mình. Rồi, đau đớn hơn tất cả đau đớn cộng lại, những gì mà ông đã gây dựng nên, tình yêu và thậm chí cả mạng sông của ông bị chấm dứt bởi chính người con gái ấy. Phần cuối cùng, thêm một bi kịch để chấm dứt một bi kịch dài là tại đám tang của Gatsby. Tất cả những người bạn, những người mà ông ngày nào cũng mời đến nhà đã dự tiệc và thậm chí người con gái ấy, đã bỏ rơi ông trong sự cô đơn lạnh lẽo của một cơn ác mộng.

Như đã nói, Đỏ, Trắng Xanh là của chiến thắng, tự do và hy vọng. Nhưng hãy nhớ, nhiều lúc nó lại là máu, sự buồn bã (blue) và cô đơn.

Permalink Leave a Comment

A Clockwork Orange: điên và tỉnh

April 23, 2009 at 10:00 pm (Movie, Politics)

Cho dù cũng đã chuẩn bị sẵn tư tưởng rằng bộ phim mình chuẩn bị xem sẽ rất là kỳ quặc và điên loạn, tôi vẫn cảm thấy choáng váng với mức độ điên cuồng (tờ Time dùng Degrees of Madness) mà đạo diễn Kubrik đã cố ý sắp đặt trong Clockwork Orange. Nhưng đôi khi những sự điên cuồng nói lên những điều rất tỉnh.

Stanley Kubrik là một người đặc biệt ở Hollywood. Đặc biệt không chỉ ở tài làm phim siêu việt của mình, mà còn ở chất quái trong những bộ phim của ông. Trong Dr. Strangelove or: How I Learned to Stop Worrying and Love the Bomb (1964), ông là người đầu tiên đem đề tài chiến tranh hạt nhân, vốn khá nhạy cảm, vào một bộ phim, hơn nữa lại là một bộ phim hài. Phong cách làm phim của Kubrik cũng rất ấn tượng, có những cảnh mà nhìn vào, ai cũng biết đó là của Kubrik. Đặc biệt nhất là cách quay bằng cách dùng ống kính mắt cá theo góc nhìn của nhân vật. Ở đây, những người đối diện với nhân vật chính trở nên méo mó và dị hợm, và diễn tả đúng tâm trạng khiếp sợ của nhân vật lúc đó. Kubrick đã dùng phương pháp này khi một phụ nữ khiếp sợ khi bị Alex tấn công và một lần nữa khi chính Alex bị viên cảnh sát nhục mạ.

Nhân vật chính Alex cũng là một kẻ điên cuồng và bệnh hoạn. Alex, chỉ khoảng 17-18 tuổi, là kẻ cầm đầu một băng nhóm tội phạm thiếu niên. Hắn là một kẻ khát khao bạo lực (ultra-violence) và tình dục. Bộ phim cũng có một cái khởi đầu mang cho người xem một cảm giác kỳ lạ. Đạo diễn quay sát khuôn mặt của Alex rồi từ từ lui ra để lộ ra một khung cảnh hắn đang ngồi cùng 3 tên đồng bọn, trong lúc đó giọng nói ồ ồ chầm chậm của Alex cất lên: “There was me, that is Alex, and my three droogs, that is Pete, Georgie, and Dim, and we sat in the Korova Milkbar trying to make up our rassoodocks what to do with the evening.” Đó là một quán sữa, với những bức tượng đàn bà khỏa thân và những con người ăn mặc quái dị. Cuốn phim diễn ra theo một trình tự chậm chạp. Phầm mở đầu tác giả dùng để kể về tội ác của Alex. Đây là phần nặng nhất và gây sốc cho người xem nhiều nhất. Thật tình, chẳng ai có thể không buồn nôn khi chứng kiến Alex đánh đập không thương tiếc một ông già ăn xin, hoặc khi Alex tấn công một cô gái. Đến khi Alex về lại gia đình mình, người xem lại biết thêm một sở thích đặc biệt khác của hắn: nhạc giao hưởng của Beethoven. Hắn hâm mộ Ludwig Van và bản giao hưởng số 9. Một tên côn đồ hạng bét yêu thích nhạc cô điển, đó đã là một sự đối lập đến điên cuồng.

Âm nhạc trong bộ phim cũng là một sự kỳ quặc đến lập dị của tác giả. Kubrik đã sử dụng bản giao hưởng số 9 của Beethoven để làm nên cho những cảnh quay của mình. Nhưng sự kỳ quặc ấy đặt trong một bộ phim kỳ quặc lại gây ra một hiệu quả kỳ lạ nơi người xem. Những cảnh quay tội ác khiếp đảm của Alex và đồng bọn lại được diễn trên nền bản giao hưởng có thể nói là hay nhất một thời đại (một chương trong đó được dùng làm thánh ca của châu Âu). Cảnh băng nhóm của Alex đánh nhau với một băng nhóm khác, dưới sự hỗ trợ của nhạc cổ điển và diễn xuất của diễn viên trở nên không khác gì một vở kịch. Tất cả bọn họ không phải đang đánh nhau, mà như đanh múa vậy, và tính bạo lực đã được giảm đi một cách triệt để. Đây là ngón nghề độc của Kubrik, khi ông đã khéo léo lồng những bản nhạc giao hưởng vào những bộ phim của mình, trước Clockwork Orange là 2001: A Space Odysse với bản The Blue Danuble.

Nếu nói về mặt doanh thu, Clockwork Orange là một thất bại thảm hại của Stanley Kubrik, khi mà nói theo ông bộ phim chỉ thu được “a few hundreds dollar.” Bộ phim cũng gây ra những tranh cãi liên miên về sex, violence của nó. Thậm chí, Stanley Kubrik còn thu lại bộ phim tại Anh vì sức ép quá lớn của dư luận, và chỉ được phát hành lại tại đây sau khi ông đã chết. Nhưng bộ phim luôn nằm trong top 100 của Viện hàn lâm điện ảnh Mỹ (American Film Institute) và với những điều rất “tỉnh” mà nó nói ra, nó cũng xứng đáng luôn với cái danh kiệt tác của mình. Điên loạn là vậy nhưng nội dung của bộ phim đọng lại những điều rất sâu sắc, rất đáng để suy ngẫm. Đó là vấn đề về sự tự do của con người, đối diện với nó là vai trò của chính quyền. Trong tiêu đề của bộ phim, clockwork là cái máy, orange chính là từ orangutan trong tiếng Malaysia có nghĩa là con vượn (man of jungle). Và chính phủ trong Clockwork Orange, đã cố gắng biến anh thành một cái máy, một con người được lập trình. Sau khi đã gây ra nhiều tội ác, Alex phải vào tù và được tham gia vào một dự án đáng sợ của chính phủ. Anh được tiêm thuốc gây ra sự sợ hãi và phải xem đi xem lại những bộ phim bạo lực, hãm hiếp. Dần dà, anh trở nên buồn nôn trước những hành động bạo lực và sex. Anh là một kẻ vô hại và là một con thỏ sau khi ra khỏi tù. Những kẻ mà trước đây Alex đã tấn công, quay lại trả thù một Alex không có sức kháng cự. Chính phủ liệu đã đúng khi mà biến một người thành một con thỏ rồi trả về một xã hội đầy rẫy những con sói ? Alex thực sự khiếp đảm trước bạo lực và sex nhưng điều đó không có nghĩa rằng anh đã là một con người lương thiện. Những suy nghĩ của anh vẫn như cũ, chỉ có một điều duy nhất khác là anh không có khả năng gây ra những điều đó. Như vậy, cái tham vọng biến một con người xấu thành người tốt của chính phủ đã thất bại. Vai trò của nhà tù cũng là một câu hỏi, khi mà việc họ cải tạo một người xấu thành người tốt là bất khả thi còn phương pháp biến người xấu thành người tốt của chính phủ lại là một tội ác. Nói như Stanley Kubrik, ông đã tạo ra “con quỷ” Alex làm đủ mọi chuyện xấu xa trên thế gian chỉ để nói lên rằng hành động can thiệp của chính phủ vào lương tri của con người đã biến họ thành một con quỷ vương. Nếu thành công với Alex, có lẽ chính phủ sẽ lập trình nên những con người khác, sẽ bắt tất cả mọi người phải run sợ, buồn nôn trước những cái xấu hơn là giáo dục mọi người rằng đó là những điều xấu. Rõ ràng, con người có quyền để lựa chọn, lựa chọn cách nào để làm người tốt, lựa chọn cái nào là cái tốt và thậm chí lựa chọn một chính phủ tốt.

Bộ phim kết thúc với vẻ mặt tười cười của Alex khi bắt tay với người đứng đầu chính phủ. Đó là một nụ cười lương thiện, khác hẳn với nụ cười ma quái của anh ở lúc đầu phim. Chẳng ai trả lời được, sau lần này, chính phủ có tẩy não mọi người để ai cũng có thể cười như Alex không. Nhưng nếu có, cũng chẳng có gì lạ, cũng đã có những chính phủ tẩy não tất cả để mọi người đều cười rồi…

Permalink Leave a Comment

Những giọt nước mắt thật khác

April 23, 2009 at 9:59 pm (Politics)

Có một người đã từng nói như thế này: “Trẻ con dùng nước mắt để đối phó với người lớn, phụ nữ lấy nước mắt để đối phó với đàn ông, còn đàn ông thì sao? Chỉ có thể dùng nước mắt để đối phó với thế giới.” Đàn ông ít bao giờ rơi nước mắt, nhưng không có nghĩa là họ không khóc. Tạm thời bỏ qua những vấn đề “khóc” thuộc dạng sến củ cải của đàn ông mà tôi nghe ra rả trên đài: thất tình, mất việc, hoặc như “nước mắt đàn ông không rơi từng giọt”…vân vân và vân vân. Đứng dưới những góc độ tâm lý học, những quy tắc của xã hội đã hạn hẹp phép tự do biểu lộ cảm xúc của đàn ông, họ có thể đập bàn, đập ghế, phùng mang trợn má, nhưng tuyệt đối không hề khóc. Những giọt nước mắt của đàn ông không mang nhiều những ý nghĩa về cảm xúc, nó thiên về cách đàn ông đối nhân xử thế, hay là ứng phó với thế giới. Có những trường hợp, giọt nước mắt rơi xuống là giọt nước mắt khôn ngoan, được người đời sau khen ngợi, ngược lại cũng có những giọt nước mắt mà ngàn năm sau người ta vẫn không tiếc lời chê bai.

Để đạt được một mục tiêu, đoạt lấy một cơ đồ hay một giang sơn, người ta không chỉ cần tài trí, mà đôi khi còn cần cả nước mắt. Lưu Bị là một bậc thầy trong việc này. Trong Tam Quốc, tác giả xây dựng Lưu Bị là một nhân nhân đức, bao dung, thương dân như con. Nước mắt có lúc là phương tiện để tác giác truyền đạt cái ý trên. Đó là khi, Lưu Bị khóc Quan Vũ mấy ngày ròng, ai ai cũng cảm phục mối tình vườn đào thâm sâu Lưu Quan. Tuy nhiên, những giọt nước mắt chính trị của Lưu Bị mới là cái biệt tài của vị hoàng đế này.Ở Trung Quốc bây giờ, người ta vẫn còn dùng đến thành ngữ “khóc như Lưu Bị”, quan niệm Lưu Bị dùng nước mắt đoạt thiên hạ cũng rất phổ biến. Có lẽ, ai đã từng đọc Tam Quốc cũng tự hỏi: nước mắt của hắn ở đâu mà lắm thế. Nhờ nước mắt, Lưu Bị vời được Khổng Minh về dưới trướng. Nhỏ một hàng lệ mà có được bộ óc kiệt xuất nhất thời Tam Quốc thì Lưu Bị chỉ có lời chứ không có lỗ. Đến đoạn Lỗ Túc Đông Ngô đòi đất Kinh Châu, Bị lại khóc, khóc thảm thiết đến mức mà quân địch phải lui quân đi. Đó đều là những việc mà không phải ai cũng đều làm được.

Một giọt nước mắt, tuy nhỏ, nhưng tác động của nó đối với người đối diện, tuỳ trường hợp, lại rất lớn. Dùng đúng lúc đúng chỗ có thể thay cho hàng vạn trang giấy mực, có thể khích lệ người tài hoặc làm hổ thẹn kẻ tiểu nhân. Tào Tháo trong Tam Quốc cũng là một người biết khóc vì mục đích, và hai giọt nước mắt chính trị của ông, một lần đã làm tất cả binh sĩ cảm động, lần kia lại làm ai ai cũng hổ thẹn. Điển tích Tào Tháo khóc Điển Vi xứng đáng là những trang viết xúc động nhất về mối quan hệ quân thần trước kia. Trong một trận đánh úp của địch, quân Ngụy bị bất ngờ nên trở tay không kịp. Tào Tháo lúc đó còn đang vui vẻ với mấy ả đào trong chướng. May thay, Điển Vi, với không một miếng giáp che thân, liều mình để Tào Tháo có đường thoát thân. Điển Vi tử trận, Tào Tháo thì may mắn thoát được đã lập bàn thờ cúng tế mà khóc thương Điển mãnh tướng rằng: ““Con trưởng, cháu yêu ta đều không lấy làm đau lắm, chỉ tiếc Điển Vi mà thôi!”. Các tướng sĩ nghe thấy ai ai cũng cảm động. Lần khác, đó là khi Tào Tháo thoát chết từ trận Xích Bích trở về. Tướng sĩ vui mừng bèn mở tiệc chào đón. Đột nhiên, giữa tiệc Tào Tháo khóc rống lên rằng: “Ta khóc Quách Phụng Hiếu vậy! Nếu Phụng Hiếu còn, quyết ko để ta phải đến nỗi này”. Nói rồi ôm ngực khóc “Ôi Phụng Hiếu! Đau xót thay Phụng Hiếu! Tiếc thay Phụng Hiếu.” Tướng sĩ lại cảm thấy hổ thẹn cho chính mình. Cũng là khóc một người, nhưng một lần làm binh sĩ cảm động mà tận tâm với mình, lần khác lại làm bề dưới phải hổ thẹn để dốc sức cho mình. Có lẽ rằng, chỉ mình họ Tào mới làm được điều này.

Đôi lúc, giọt nước mắt cũng có thể biến thành nước thánh. Người khóc cũng có thể biến thành chúa Jesus. Trong những tình huống hiểm nghèo, anh hùng, sau một đêm có thể bị biến thành nơi hứng chịu cơn thịnh nộ của dư luận, giọt nước mắt lăn ra và họ lại là một người hùng trong mắt mọi người. Hãy nhìn lại lịch sử của Việt Nam sau năm 1945. Công cuộc cải cách ruộng đất của đảng cộng sản Việt Nam trở thành một cuộc thử nghiệm thất bại. Những con số thống kê về những người bị oan từ ý chí của người đề ra quyết sách chẳng bao giờ được. Lịch sử là một quyển sách không hoàn chỉnh về số trang và cuộc cải cách ruộng đất luôn nằm trong vùng tối của sự thật. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra trước Quốc hội để xin lỗi nhân dân. Cụ đã khóc. Nhân dân miền Bắc lúc đó đã tha lỗi cho cụ, tuy nhiên Tổng bí thư Trường Chinh vẫn phải chịu mất chức. Bây giờ, câu chuyện ấy đã phai màu mực, và hình ảnh xin lỗi nhân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh không còn được nhắc đến nhiều vì nó gắn liền với một giai đoạn mà nhiều người không bao giờ muốn nhắc đến nữa.

Chính trị thực ra chỉ là một trò chơi, nhiều luật lệ hơn và cũng nhiều kỹ xảo hơn. Những kỹ xảo và những âm mưu dưới những mỹ từ đẹp đẽ và nước mắt là lớp giấy gói quà nhiều màu nhất cho những mưu đồ ấy. Giọt nước mắt có thể đánh lừa hàng vạn người và thi vị hoá một âm mưu. Người xưa có câu “mèo khóc chuột.” Trong Tam Quốc, con mèo ấy là Gia Cát Lượng còn con chuột là Chu Du. Ai cũng biết rằng Du vì uất Lượng quá mà đâm ra chết. Nghe tin Du chết ắt Lượng cũng mừng thầm trong bụng vì vừa diệt được một kẻ thù nguy hiểm vừa thấy rằng mưu kế mình giăng ra đã có hiệu quả. Gia Cát đến viếng Chu Du, vừa viếng vừa khóc than hệt như giữa họ có mối thân giao từ lâu lắm vậy. Nếu không vì Gia Cát nói lời mà không biết giữ, thì Chu Du cũng đã đâu chết nhanh như vậy đâu. Ấy vậy mà những giọt nước mắt của Gia Cát Lượng đã làm mờ mắt những nhân sĩ Đông Ngô. Tướng lĩnh, ai ai cũng khen Gia Cát Lượng là người nhân nghĩa. Gia Cát Lượng là thần cơ diệu toán, bậc thầy của trò chơi chính trị thời Tam Quốc, những giọt nước mắt của ông không thể đo bằng thứ cảm xúc yếu mềm mà đo bằng những lợi tức mà nó đem lại.

Cảm xúc sẽ nặn ra những giọt nước mắt. Nhưng khi lý trí đè bẹp được cảm xúc nó cũng sẽ nặn ra những giọt nước mắt thật khác. Khóc bằng giọt nước mắt nào, bình thường hay thật khác, đôi khi, trong cuộc đời này, không phải do chúng ta chọn…

Permalink 2 Comments

Chiến thắng và đêm trắng

April 23, 2009 at 9:58 pm (Football)

Đời người có những giấc mộng dài vô tận. Có những người cả đời đi tìm một niềm hạnh phúc. Như người họa sĩ, hay nhà thơ, chỉ mong suốt một kiếp sống dài đằng đẵng này có một bài thơ hay một bức tranh để đời. Còn đời cầu thủ, ngắn chỉ bằng một gang tay cũng chỉ mong có một trận đấu, hay một bàn thắng để đời. Hôm nay, những cầu thủ Việt Nam đã có tất cả mà một cầu thủ có thể mơ ước: một bàn thắng kịch tính, một trận bóng cống hiến và một chức vô địch đã được cả đất nước này chờ đợi từ vài chục năm nay.

Những con người hôm nay làm nên lịch sử sẽ được lịch sử đáp trả bằng một chỗ đứng trang trọng. Những con người hôm nay đã thiêu cháy người hâm mộ bằng niềm vui, hân hoan vô bờ bến sẽ được người hâm mộ đáp trả bằng những tình cảm cao quý nhất. Họ không phải vác súng, họ không phải ra chiến trường, nhưng họ đã chiến đấu, chiến thắng như những chiến sĩ. AFF cup, cũng là một cuộc chiến mà trong đó Việt Nam phải chiến thắng bản thân trước khi chiến thắng những Thái Lan, Singapore. Có ai đó nói rằng bóng đá chỉ là một trò chơi, nhưng bản thân tôi luôn luôn nghĩ rằng, ở đây, Việt Nam bóng đá là một thứ tôn giáo của cả nước. Và tối hôm nay, với chiến tích này, đó có thể là cuộc thập tự chinh vĩ đại hoặc cũng thể là một cuộc trường chinh hằng mấy mươi năm.

Viết về sự hâm mộ cuồng nhiệt của người Việt Nam đối với bóng đá, viết về tinh thân yêu nước của người Việt sẽ là quá dư thừa. Những người nước ngoài ai đó đềm cảm thấy ngỡ ngàng và choáng váng trước tình yêu bóng đá của người Việt Nam. Bóng đá có lúc làm những người con nước Việt thất vọng tràn trề, nhưng rồi tình yêu Tổ Quốc lại khiến người hâm mộ dễ dãi hơn lúc nào hết để bỏ qua tất cả những lỗi lầm ấy. Lần này, bóng đá đã đền đáp lại sự rộng lượng ấy. Cơn bão tài chính, tiền tệ, khủng hoảng kinh tế, tất cả chỉ là những nếp nhăn đã bị thổi bay đi không thương tiếc trên gương mặt mọi người. Vì người ta vui, người ta có thể “no” bằng những niềm hân hoan mà không cần đến những cơm áo gạo tiền kia.

Đêm nay, Việt Nam sẽ không ngủ. Mấy chục năm rồi mới có được một đêm như đêm nay. Hãy cùng ước ao một điều rằng đếm nay rồi sẽ dài như mấy chục năm cộng lại. Vì niềm vui là quá còn một đếm trắng thì lại quá ngắn…

Permalink Leave a Comment

Nếu cả thế giới mang cùng một khuôn mặt…

April 23, 2009 at 9:57 pm (My World)

Nếu cả thế giới mang cùng một khuôn mặt. Ta nhìn vào mặt người như nhìn vào những tấm gương. Giống nhau kỳ lạ. Ta tự hỏi, ta giống họ hay họ cũng chính là ta. Khi ta cười, ta thấy môi người cũng đang nở. Lúc ta khóc, ta thấy mắt người cũng đẫm ướt. Khóc, cười, buồn vui, ta và người làm việc ấy như sự bức thiết của bản năng. Cảm xúc ư, nó như là tờ giấy than đã nhạt đi rất nhiều sau khi phải vẽ ra ngần ấy những mặt người giống nhau. Và rồi, chẳng còn ai có thời gian để quan tâm đến việc ấy, vì họ còn phải lao đi để tìm những thứ giống nhau…

Nếu cả thế giới mang cùng một khuôn mặt. Những gã trai sẽ tán gái cùng một kiểu y khuôn. Lãng mạn nhưng giả dối. Lả lướt nhưng sân si. Họ sẽ cùng tuôn ra những lời y hệt như nhau, những câu có cánh cũ đến mức chẳng còn có thể bay. Trên mình họ sẽ là những bộ quần áo vay mượn ý tưởng từ những củ sâm, những chàng ca sĩ ỏng ẹo mà họ cùng yêu thích. Những cô gái của họ sóng sánh bên họ, bá cổ vịn vai theo cùng một tư thế trên những chiếc xe giống nhau đến từng chiếc que tăm. Những cuộc tình rồi sẽ tự tàn lụi khi qua đầy đủ những công đoạn và giai đoạn, như một mùa lúa thời vụ, một cách giống hệt nhau.

Nếu cả thế giới mang cùng khuôn mặt. Tôi sợ sẽ đến một ngày tôi chẳng thể phân biệt gặp một cô gái 10 lần một ngày với gặp 10 cô gái một ngày khác nhau chỗ nào. Tôi sợ lắm rồi những kiểu tóc mà cả thế giới cùng thẳng một kiểu, cùng xoăn một kiểu. Những người tóc đen lại có những sợi tóc vàng giống hệt nhau. Các cô ấy sẽ vào những rạp phim để xem cùng một bộ phim, để cùng khóc một kiểu cho những anh chàng đẹp trai nhưng xấu số. Không bệt họ có cùng mong thằng người yêu của họ cũng bị ung thư không nhỉ ?

Nếu cả thế giới mang cùng khuôn mặt. Tôi sẽ chẳng cần hỏi bạn là ai. Vì tôi biểt rằng, cho dù ai, câu trả lời cũng sẽ là “tôi là tôi”, “tôi là chính tôi”… Đương nhiên tôi biết bạn là bạn rồi. Nhưng vì thế giới nay mang cùng khuôn mặt, hay cả thế giới này cũng “tôi là tôi” nên tôi chẳng biết bạn là ai hết. Nhưng mà có quan trọng không nhỉ khi bạn giống với cả thế giới này rồi, biết được bạn là ai rồi, có khác gì chăng ?

Nếu cả thế giới mang cùng khuôn mặt. Cả thế giới sẽ chẳng mang một khuôn mặt nào…

Permalink Leave a Comment

Điểm tựa văn hoá

April 23, 2009 at 9:56 pm (Politics)

“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng được cả Trái Đất” đấy là câu nói nổi tiếng của nhà vật lý cổ đại Archimedes. Những gì khó khăn nhất trong cuộc đời cũng có thể vượt qua được nếu như mỗi người trong chúng ta có một điểm tựa. Tôi hạnh phúc vì tôi có những điểm tựa vững chắc là gia đình tôi, bạn bè… và tôi nghĩ rằng mọi người chắc ai cũng có một điểm tựa nào đó cho mình để khi mệt mỏi ta có thể dựa lưng, ngả gối. Đấy là trên phương diện cá nhân. Còn trên phương diên của một quốc gia thì thế nào ? Những quốc gia chắc chắn cũng phải cần những điểm cho riêng mình. Ngày xưa, chúng ta cũng có những điểm tựa là những anh Hai, anh Ba. Nhưng ngày nay, những người anh ấy đã không còn coi thằng em chúng ta là “thằng em”, thậm chí có những lúc những người anh những người em ấy lại gà cùng một nhà đá nhau. Vậy thì ta phải tạo ra những điểm tựa khác, bền vững hơn, chắc chắn hơn. Và không gì khác hơn,văn hóa sẽ là điểm gốc tạo ra những sức mạnh to lớn mà bình thường chúng ta chưa chắc đã có được, hệt như một chiếc đòn bẩy.

Văn hóa chính là điểm tựa cho một cú nhảy lớn, một cú bật vọt để trở thành Thánh Gióng, là xương sống cho một ngày mai người khổng lồ có thể lớn dậy. Không có văn hóa, đất nước sẽ như một người thiếu sức đề kháng, mẫn cảm với những biến đổi không ngừng của thế giới và tác động của những kẻ lăm le một lần nữa muốn đổi tên nước Việt chúng ta. Chúng ta cứ hô hào cảnh giác để bảo vệ từng tấc đất của tổ tiên, hô hào yêu nước, yêu Tổ quốc, đoàn kết để cùng đối phó với kẻ thù. Những lời hô hét dù lớn đến đâu, những khâu hiệu dù mỹ miều đến mức nào cũng chẳng thể làm run sợ kẻ thù nếu như vẫn còn những người tin rằng Bảo Đại là vua Trung Quốc hay Hai Bà Trưng là một người anh hùng họ là Hai tên là Bà Trưng. Bảo vệ Tổ quốc không chỉ đơn thuần là việc bảo vệ từng hạt cát, từng hòn đảo, những cái mà chúng ta đang có mà còn là việc bảo vệ cả những cái đã-từng-thuộc-về-chúng-ta.

Trong đám đông, để một người nhận ra chúng ta không phải là một việc đơn giản nếu như chúng ta chấp nhận hoà lẫn vào đám đông hoặc không có những cá tính đặc biệt để chỉ cần một cú hắt hơi cũng không ai có thể lẫn tiếng hắt hơi ấy với tiếng hắt hơi của người khác. Một đất nước cũng cần những cá tính và văn hoá chinh là cái để ta phân biệt ta với Tàu hay Tàu với Tây… Đất nước chúng ta có một nền văn hoá riêng và đó là cái để giữ cho chúng ta vẫn còn tồn tại được đến ngày nay, tức là khoảng vài nghìn năm sau cái ngày chúng ta tự nhận chúng ta là người Việt, nước Việt. Trong khoảng thời gian ấy, những sự giao thoa về văn hoá giữa hai nước láng giềng là không thể tránh khỏi, vị thế của một nước nhỏ đã làm cho chúng ta phải chịu những ảnh hưởng ít nhiều của văn hóa Trung Quốc. Nhưng, và tuyệt nhiên, chúng ta không bao giờ đánh mất chính mình. Ví dụ như trông lĩnh vực nghệ thuật gốm sứ, những kết luận gần đây của các nhà khoa học đó là mặc dù có những ảnh hưởng nhất định từ phía Trung Hoa, các nghệ nhân nước Việt cũng đã thành công trong việc tạo ra những bản sắc cho gốm sứ Việt Nam. Những làng gốm ngày xưa như Bát Tràng, Chu Đậu đã tạo ra được những món đồ tinh xảo để xuất khẩu qua châu Âu. Văn hoá, đó là những thứ ta nhìn vào để ta thấy tự hào và tạo ra trong chúng ta một nghĩa vụ giữ gìn và bảo vệ. Đó chính là sức mạnh của dân tộc.

Tôi vẫn còn nhớ như in lời của thầy tôi khi được thầy giảng về Văn miếu quốc tử giám: “Hãy xem thử lúc chúng ta có được Văn miếu thì ở nước Mỹ có gì. Chỉ là một vũng lầy phải không?” Những chỉ số kinh tế hôm nay cho phép chúng ta biết được hôm nay ta đứng đâu trong thế giới, còn những thứ thuộc về tinh thần như Văn Miếu, tranh Đông Hồ… cho phép chúng ta biết được ta là ai. Vậy là đủ. Trong cuộc đời này, chỉ cần biết ta là ai và ta đang đứng ở đâu. Biết được ta đứng ở đâu rồi thì hãy tự hỏi vị trí đó có xứng đáng với “ta là ai” hay chưa ?

Permalink Leave a Comment

Bạc mệnh

April 23, 2009 at 9:55 pm (Music)

Tối nay, Hollywood tưng bừng với lễ trao giải Oscar. Những người hâm mộ môn điện ảnh sẽ ngồi lại để chờ xem liệu bộ phim mình yêu thích có được giải thưởng này không. Những diễn viên cũng sẽ hồi hộp từng phút giây để chờ khỏanh khắc vinh quang của người chiến thắng. Và Heath Ledger, có lẽ cũng sẽ có những cảm giác mong đợi tương tự, nhưng không phải là từ một dãy ghế nào đó của khán phòng Kodak, mà là từ một nơi nào đó rất xa…thiên đường chẳng hạn. Bất chợt Heath Ledger làm tôi nhớ đến John Lennon và Freddie Mercury. Họ đều là những người đã lỡ vận vào mình cái án ngàn năm “Tài hoa chi lắm cho trời đánh ghen”…

Không biết khi thi hào Nguyễn Du viết ra câu thơ trên, ông nghĩ rằng có bao nhiêu phần trăm sự xác tín trong việc ông trời đánh ghen tài năng con người. Chỉ biết rằng cái chết của con người tài hoa John Lennon lại có cái gì đó rất giống như… bị trời đánh. Tức là một cái chết bất thình lình, một cái chết mà chẳng mang đến trước đó bao nhiêu dự cảm. Những ngày sau, tin tức về cái chết của John làm cả thế giới phải bang hòang. Chẳng một ai có thể ngờ rằng, người ca sĩ mà họ hằng yêu mến, ngày trước còn lên truyền hình, vậy mà lại ra đi một cách đột ngột. John ra đi, 5 năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, lúc mà những người Việt Nam vẫn còn nợ anh một lời cảm ơn về tất cả những gì anh đã làm cho đất nước này. Những ngày ở New York, tôi có dịp ghé thăm ngôi nhà nằm trên đường 72, nơi anh ở và cũng là nơi những viên đạn oan nghiệt cướp đi của thế giới một tài năng âm nhạc. Ở phía đối diện, bên trong cổng phía tây của công viên Central Park, là khu tưởng niệm Strawberry Fields. Tôi đến đó, đặt cho anh một bó hoa. Có người đặt cho anh một thỏi chocolate, một đĩa nhạc John Lennon, hay chỉ là những tấm thiệp chúc mừng năm mới. Tôi ngồi bên một cái ghế đá hồi lâu, lặng nhìn những dòng người ra vào khu tưởng niệm, và lẩm nhẩm “Imagine there is no heaven…”. Imagine you’re still living…

Ngòai John Lennon ra, còn có một người khác cũng gây cho tôi cái cảm giác tiếc nuối tương tự, đó là Freddie Mercury, chàng ca sĩ chính của Queen. Tôi thích giọng hát của anh, có lẽ là người nghe rock nào cũng vậy, là khi nghe anh hát Bohemian Rhapsody cao chót vót. Đoạn “Mama, life has just begun” có lẽ ngòai anh ra chẳng còn ai có thể hát ngọt như vậy. Rồi trong Love of My Life nữa chứ, chất giọng tenor của anh cất lên thì nghe vừa ngọt ngào “Love of my life…” vừa cay đắng và trách móc vừa tiếc nuối vừa van ai. Những lời những lời hát, có lúc ngọt ngào như một lời thì thầm, có lúc đau khổ như một tiếng khóc không thành tiếng. Như John Lennon, Fred Mercury cũng đã ra đi ở cái tuổi mà anh vẫn còn có thể cống hiến rất nhiều cho âm nhạc. Nhưng nếu như ở John, bi kịch chỉ xảy ra ở cái chết đau đớn thì cả cuộc đời của Fred là một khúc đoạn trường. Đó là cuộc hôn nhân đổ vỡ với người bạn gái năm xưa Mary Austin, mối quan hệ đồng giới bí mật với một người thợ hớt tóc và cuối cùng là sự thất bại trước căn bệnh thế kỷ AIDS. Những lời ca trong những bài hát của Mercury luôn chất chứa những nỗi thất vọng, cái chết cận kề “Goodbye everybody, I gotta go”, “mama, I don’t wanna die” (Bohemian Rhapsody). Và rồi cái gì đến cũng phải đến, chỉ 12h đồng hồ sau khi thừa nhận mình đã mắc phải AIDS, anh đã vĩnh viễn ra đi ở cái tuổi 45 mang theo những sự tiếc nuối của những người yêu mến Queen nói chung và bản thân anh nói riêng. Bây giờ, mỗi lần nghe nhạc của Queen tôi lại thầm ước, giá như anh đừng chết quá trẻ, cả thế giới sẽ lại có nhiều thêm những kiệt tác như là: We will rock you, We’re the champions…

Trong “The Show must go on” Freddie Mercury đã từng hát rằng:

“The Show must go on!
The Show must go on! Yeah!
Ooh! Inside my heart is breaking!
My make-up may be flaking!
But my smile, still, stays on!
Yeah! oh oh oh”

Bây giờ, khi vắng anh, mọi người vẫn sẽ hát “The show must go on”, như những bài hát của anh, anh vẫn còn ở trong trái tim mọi người. Còn với John Lennon, chúng tôi sẽ hát tặng anh Imagine và Yesterday vì chỉ có trong tưởng tượng và trong quá khứ chúng tôi mới có thể gặp lại anh. Biết thế, nhưng có lẽ ai cũng có một phần tiếc nuối cho những bậc tài hoa nhưng bạc mệnh…

Permalink Leave a Comment

Next page »