“Sang” hay “chợ”…

December 22, 2009 at 7:47 am (Music, My World)

Âm nhạc có nhiều dòng chảy, như những dòng suối từ những nguồn khác nhau, tạo ra những màu sắc tươi đẹp và riêng biệt đặt trưng của mỗi dòng nhạc. Người thích Rock tìm đến sự bình yên trong những âm thanh chát chúa có trật tự. Pop dành cho tuổi trẻ và sự năng động. Jazz, Blue cho những phút giây ngưng tụ của khoảnh khắc… Và dĩ nhiên không ai thể nói dòng nhạc nào là cao hay dòng nhạc nào là thấp hèn. Mỗi dòng nhạc cũng như một công dân trong thế giới đa diện này: bình đẳng và có tiếng nói riêng. “Nhưng sẽ có những người bình đẳng hơn những người khác.” Giống như là chuyện “sang”, “hèn” giai cấp trong âm nhạc Việt Nam.

Khó có thể nói là nhạc thế nào là “sang” thế nào là “thị trường.” Nó mang cảm tính cá nhân của người viết và người nhận định hơn là phản ánh thứ âm nhạc mà nó chứa đựng. Khó có thể nói chính xác đặc điểm “nhạc sang” và nhạc thị trường, để có thể tìm ra được một định nghĩa xác đáng nhất. Và vì thế, người ta đang lạm dụng từ “nhạc sang” như là một cách để tự huyễn hoặc bản thân về trình độ thẩm mỹ của mình.

Nếu nói về đối tượng nghe, nhạc sang và nhạc thị trường có chung một thị trường. Không thể nói “nhạc sang” già hơn, bởi vì có rất nhiều người trẻ vẫn nghe thể loại âm nhạc đó hàng ngày. Và nhạc thị trường cũng nhắm đến những người trẻ, những người sinh viên. Tiếc là không có những số liệu đầy đủ để có thể kết luận “người trẻ như thế nào” sẽ nghe loại nhạc nào. Nhưng nếu xét thôi những cơ chế bình thường của âm nhạc, cái nào hay sẽ tới được công chúng. Loại trừ những yếu tố mang tính cục bộ (đặc biệt ghét hay thích một thể loại nào đó…), một người nghe nhạc giao hưởng cũng có thể nghe nhạc Rap như thường (có thể!). Và điều đó đúng với cả nhạc thị trường và nhạc “sang”.

Vậy điều gì đã tạo ra một thứ giai cấp như vậy trong âm nhạc. Chúng ta phải kể tới vai trò dán tem dán nhãn của báo chí. Những cụm từ kiểu như “nhạc sang” đang xuất hiện nhan nhản trên báo chí với một tần số càng ngày càng dày. Nếu chúng ta biết quyên lực của báo chí trong việc dẫn dắt ý kiến của đám đônglà rất lớn, việc tạo ra một thế hệ nghe nhạc hiện nay với suy nghĩ “nhạc trẻ”, nhạc chợ chỉ là một việc cỏn con. Một vài bài xã luận của những nhạc sị “tâm huyết” với nền âm nhạc nước nhà và “cảm thấy có trách nhiệm” với việc định hướng việc nghe nhạc của giới trẻ là đã quá đủ để người đời nhìn nhạc “thị trường” bằng một nửa con mắt. Thêm vào đó là những chỉ trích từ những… nhà văn vì lời ca khúc của nhạc “thị trường” là rẻ tiền đã khiến một bộ phận lớn mang cùng một cảm giác xấu hổ khi vào tiệm đĩa và đem ra một đĩa nhạc của Bảo Thy…

Việc tạo ra một ranh giới mỏng manh nhưng cực kỳ rõ ràng bằng việc chỉ mặt đặt tên ca sĩ nào là sang ca sĩ nào là thị trường đã tạo ra những cấp bậc trong giới nghệ sĩ. Bây giờ, nghĩ tới Quang Dũng người ta nghĩ tới một chàng ca sĩ ăn mạc bảnh bao chải chuốt. “Sang” nhỉ, vì nhạc của anh ta người ta gọi là nhạc “sang” mà. Để mỗi lần anh ấy xuất hiện, những bậc quý ông quý bà, cũng trong những bộ trang phục chải chuốt như vậy tâm đắc và (tự) khen: “ta phải nghe nhạc sang chứ, ta sang mà.” Bây giờ, Quang Dũng đã là một biểu tượng thực sự của dòng nhạc này với những ca khúc như: “Không cần biết em là ai, không cần biết em từ đâu.”

Đôi khi, một bài hát muốn “sang” thì người nghe phải “sang” và người hát cũng phải “sang”. Đó dường như là cách duy nhất mà người ta có thể phân loại chúng…

Permalink Leave a Comment

Bình Yên

April 23, 2009 at 10:02 pm (Music)

Quốc Bảo đã từng nói rằng âm nhạc của anh “đi từ lãng mạn đến phản lãng mạn”. Nếu ta xếp từng album của anh lên một thang bậc, đi từ lãng mạn đến bão tố và trực diện thì “Bình yên” nằm ở mốc số không, tức là lửng lơ giữa những ca từ nuột nà của “Ngồi hát ca bềnh bông” & “Vàng Son” và sự già dặn của kẻ trải đời trong “Những chuyện kể” và “V”. “Bình Yên” nằm ở giữa ấy, như một vùng giao hoà mà hai thái cực trái ngược nhau hoàn toàn ấy có thể sống chung với nhau, hoặc như một vùng tranh chấp mà những giằng xé nột tâm đang giành giật nhau những khoảnh khắc sống, cũng có thể là một di tích nơi gồm có cả nhưng tàn phải của sự lãng mạn đã từng cháy trong lòng tác giả và cả những cô độc đang dần dần bao vây tầm hồn của anh. Và những cái đấy, giằng xé, bất an và cô độc đã đi từ đời sống của anh để vào nhạc, vậy mà những tính từ vốn dĩ chỉ tạo nên những sự trắc trở lại là những nguyên liệu thô để anh xây nên “Bình Yên”…

Quốc Bảo tạo ra “Bình Yên” nhưng bình yên không phải của anh. Anh đã thừa nhận rằng anh đã tạo ra nó như một tiếng thét của một tâm hồn trống rỗng đang khao khát bình yên đến cùng cực. Một cuộc hôn nhân trong bế tắc, những màn đánh hội đồng của đồng nghiệp và báo giới, anh đã rút lui khỏi những bon chen, lặng lẽ đến nỗi người ta cứ nghĩ là họ đã đánh sập được tâm hồn được xây bằng kính của anh. Lúc ấy, anh đã viết Bình Yên. Ngày Bình Yên ra mắt cũng chính là ngày Quốc Bảo trở lại. Và cái tên Bình Yên ấy là quá ấn tượng cho một người chỉ mới vừa “tai qua nạn khỏi”…

Khi album Bình Yên bước lên kệ đĩa, người nghe chọn lấy Bình Yên để nghe thử và bị chính cái trạng thái bình yên mà bài hát tạo ra thuyết phục. Bình Yên do Trần Thu Hà và Trần Hiếu thể hiện không chỉ mang cho ta cảm giác ấy, dường như nó đang định nghĩa lại cụm từ này.

Giọng ca mộc mạc và mỏng của Trần Thu Hà mở ra bài hát và mở ra cho chúng ta một không gian. Trần Thu Hà như đang ngồi giữa một khoảng lặng bao la, những tiếng đàn dập dềnh nhưng cất lên một cách thanh thản. Ta có cảm tưởng như ta đang nhìn Trần Thu Hát hát chứ không phải đang nghe cô hát, có cảm tưởng như không gian thanh thản ấy được giấu đi trong bài hát này, và ta tìm ra nó như tìm một kho báu đã không còn tồn tại trên thế giới này. Ta còn thấy cả những nốt nhạc đang bay giữa khoảng không, vì những nốt nhạc ấy, vốn dĩ đã không mang trong mình một gánh nặng nào lại mang thêm cả sự thanh thản vào mình. Và ngay cả tâm hồn chúng ta, khi nhẹ nhàng, rồi cũng sẽ bay lên. Ta đã có được chữ “Bình”.

Trần Thu Hà đã tạo ra một không gian tĩnh lặng và êm đềm thì Trần Hiếu làm cho không gian ấy thêm ấm. Nếu như cái không gian của Trần Thu Hà cho ta một cảm giác an toàn của thời gian đang ngừng chảy thì Trần Hiếu lại tô thêm vào cái cảm giác an toàn ấy bằng sự che chở. Chất giọng trầm và cách xử lý điêu luyện của Trần Hiếu đã bao bọc sự mỏng manh của Trần Thu Hà một cách hoàn hảo. Cái cảm giác bình yên lúc này trong tâm hồn mỗi người không chỉ là sự tĩnh lặng cần thiết để lắng đọng mà còn là một sự bình yên như đang được ai đó che chở, như đang dựa đầu vào vai của ai đó, như một đồi bàn tay thô ráp đang nắm chặt và truyền hơi ấm cho môt bàn tay mềm mại. Bởi thế, tôi đặc biệt thích cái version này của Bình Yên. Những người hát cặp với Mai Khôi và Hồng Nhung dù đã cố gắng vẫn không thể tạo ra một cảm giác bền vững và tin cậy.

Bình Yên không chỉ là “bình”, nó còn cần đến một chữ “yên”, là một nơi không chỉ ta tìm thấy sự thanh thản mà cả sự vững chải và yên tâm mỗi khi tìm về. Ngày ấy, ta chưa có “bình” nhưng đã biết được cảm giác của từ “yên” từ gia đình thân yêu. Bây giờ ta đã có “bình”, biết ngày nào mới trở về được với chữ “yên” ấy ?

Permalink 3 Comments

Bạc mệnh

April 23, 2009 at 9:55 pm (Music)

Tối nay, Hollywood tưng bừng với lễ trao giải Oscar. Những người hâm mộ môn điện ảnh sẽ ngồi lại để chờ xem liệu bộ phim mình yêu thích có được giải thưởng này không. Những diễn viên cũng sẽ hồi hộp từng phút giây để chờ khỏanh khắc vinh quang của người chiến thắng. Và Heath Ledger, có lẽ cũng sẽ có những cảm giác mong đợi tương tự, nhưng không phải là từ một dãy ghế nào đó của khán phòng Kodak, mà là từ một nơi nào đó rất xa…thiên đường chẳng hạn. Bất chợt Heath Ledger làm tôi nhớ đến John Lennon và Freddie Mercury. Họ đều là những người đã lỡ vận vào mình cái án ngàn năm “Tài hoa chi lắm cho trời đánh ghen”…

Không biết khi thi hào Nguyễn Du viết ra câu thơ trên, ông nghĩ rằng có bao nhiêu phần trăm sự xác tín trong việc ông trời đánh ghen tài năng con người. Chỉ biết rằng cái chết của con người tài hoa John Lennon lại có cái gì đó rất giống như… bị trời đánh. Tức là một cái chết bất thình lình, một cái chết mà chẳng mang đến trước đó bao nhiêu dự cảm. Những ngày sau, tin tức về cái chết của John làm cả thế giới phải bang hòang. Chẳng một ai có thể ngờ rằng, người ca sĩ mà họ hằng yêu mến, ngày trước còn lên truyền hình, vậy mà lại ra đi một cách đột ngột. John ra đi, 5 năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, lúc mà những người Việt Nam vẫn còn nợ anh một lời cảm ơn về tất cả những gì anh đã làm cho đất nước này. Những ngày ở New York, tôi có dịp ghé thăm ngôi nhà nằm trên đường 72, nơi anh ở và cũng là nơi những viên đạn oan nghiệt cướp đi của thế giới một tài năng âm nhạc. Ở phía đối diện, bên trong cổng phía tây của công viên Central Park, là khu tưởng niệm Strawberry Fields. Tôi đến đó, đặt cho anh một bó hoa. Có người đặt cho anh một thỏi chocolate, một đĩa nhạc John Lennon, hay chỉ là những tấm thiệp chúc mừng năm mới. Tôi ngồi bên một cái ghế đá hồi lâu, lặng nhìn những dòng người ra vào khu tưởng niệm, và lẩm nhẩm “Imagine there is no heaven…”. Imagine you’re still living…

Ngòai John Lennon ra, còn có một người khác cũng gây cho tôi cái cảm giác tiếc nuối tương tự, đó là Freddie Mercury, chàng ca sĩ chính của Queen. Tôi thích giọng hát của anh, có lẽ là người nghe rock nào cũng vậy, là khi nghe anh hát Bohemian Rhapsody cao chót vót. Đoạn “Mama, life has just begun” có lẽ ngòai anh ra chẳng còn ai có thể hát ngọt như vậy. Rồi trong Love of My Life nữa chứ, chất giọng tenor của anh cất lên thì nghe vừa ngọt ngào “Love of my life…” vừa cay đắng và trách móc vừa tiếc nuối vừa van ai. Những lời những lời hát, có lúc ngọt ngào như một lời thì thầm, có lúc đau khổ như một tiếng khóc không thành tiếng. Như John Lennon, Fred Mercury cũng đã ra đi ở cái tuổi mà anh vẫn còn có thể cống hiến rất nhiều cho âm nhạc. Nhưng nếu như ở John, bi kịch chỉ xảy ra ở cái chết đau đớn thì cả cuộc đời của Fred là một khúc đoạn trường. Đó là cuộc hôn nhân đổ vỡ với người bạn gái năm xưa Mary Austin, mối quan hệ đồng giới bí mật với một người thợ hớt tóc và cuối cùng là sự thất bại trước căn bệnh thế kỷ AIDS. Những lời ca trong những bài hát của Mercury luôn chất chứa những nỗi thất vọng, cái chết cận kề “Goodbye everybody, I gotta go”, “mama, I don’t wanna die” (Bohemian Rhapsody). Và rồi cái gì đến cũng phải đến, chỉ 12h đồng hồ sau khi thừa nhận mình đã mắc phải AIDS, anh đã vĩnh viễn ra đi ở cái tuổi 45 mang theo những sự tiếc nuối của những người yêu mến Queen nói chung và bản thân anh nói riêng. Bây giờ, mỗi lần nghe nhạc của Queen tôi lại thầm ước, giá như anh đừng chết quá trẻ, cả thế giới sẽ lại có nhiều thêm những kiệt tác như là: We will rock you, We’re the champions…

Trong “The Show must go on” Freddie Mercury đã từng hát rằng:

“The Show must go on!
The Show must go on! Yeah!
Ooh! Inside my heart is breaking!
My make-up may be flaking!
But my smile, still, stays on!
Yeah! oh oh oh”

Bây giờ, khi vắng anh, mọi người vẫn sẽ hát “The show must go on”, như những bài hát của anh, anh vẫn còn ở trong trái tim mọi người. Còn với John Lennon, chúng tôi sẽ hát tặng anh Imagine và Yesterday vì chỉ có trong tưởng tượng và trong quá khứ chúng tôi mới có thể gặp lại anh. Biết thế, nhưng có lẽ ai cũng có một phần tiếc nuối cho những bậc tài hoa nhưng bạc mệnh…

Permalink Leave a Comment

Cõi về

April 23, 2009 at 9:52 pm (Music)

“Trong mt gic ng bng bnh không gi gic ca mùa xuân, tôi thng thi thy b bến bng rã tan thành nhng cánh bèo mông lung vô đnh.” Đây là những tâm sự đáy lòng của người nhạc sĩ tài hoa, quan niệm của ông về một cuộc đời mông lung và hư ảo. Cuộc đời ông, trăn trở về một cõi thiên thu siêu thực, nó giống như cõi Hư vô của những người theo chủ nghĩa hiện sinh hoặc như là cõi tịnh niết bàn của đạo Phật. Vậy thì cuộc đời này, đối với họ Trịnh chỉ như một cõi tạm. Nó như một bến chờ, hoặc điểm xuất phát, hoặc có khi là một cái ga cuối của một vòng tròn luân hồi. Đi và về, bờ và bến, nơi này là đâu ? Suốt cuộc đời, Trịnh Công Sơn trăn trở mãi một chữ “Về”, nhưng là về đâu ?

Phần lời của những bài hát Trịnh Công Sơn thương là những mảng rời rạc, như là những tiếng vọng đứt quãng của một tâm hồn lẩn khuất trong đêm. Trịnh Công Sơn viết nhạc không chỉ để kể một câu chuyện, tả về một mối tình, đó là lời tâm sự của một người trải đời. Ông tâm sự rằng, ông đam mê triết học nên muốn đem những triết lý ấy của mình vào những bài hát. Vì thế, những bài hát của Trịnh Công Sơn, ta chỉ có thể nghe và cảm nhận bằng những đụng chạm, lời ca đụng chạm vào một phần trực giác của chúng ta. Hãy nghe Trịnh Công Sơn của cuộc đời mình qua “Một Cõi Đi Về”:

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về
…”

“Về” với Trịnh Công Sơn là một cõi. Khi Trịnh Công Sơn đã dung từ “cõi”, Trịnh Công Sơn đã coi nó như hố đên của định mệnh, sớm muộn gì nó cũng hút những kiếp người về phía nó. Như là cõi sống và cõi chết, con người phải sống và cuối cùng phải đi về cõi tử. Trịnh Công Sơn từ chối nói về cái chết, ông chỉ có một cõi đi và một cõi về, theo chu kỳ trăm năm của một đời người. Điều này được lý giải bởi thuyết luân hồi của Phật giáo, luân là bánh xe và hồi là quay trở lại, kiếp người cứ như một vòng xe lăn mãi. Con người, không sinh ra, chỉ là sống lại từ tiền kiếp, con người không chết đi, mà là bắt đầu một kiếp sống mới. Như trong “Ngẫu nhiên”, ông đã từng viết:

Không có đâu em này, không có cái chết đầu tiên
Và có đâu bao giờ, đâu có cái chết sau cùng…”

Cao Huy Thuần đã nói rằng: “Trịnh Công Sơn như vừa đứng ở hiện tại vừa linh cảm cùng trong một lúc quá khứ và tương lai. Anh như thấy tiền kiếp réo tên và cái chết vẫy gọi.” Và chữ về của Trịnh Công Sơn như một chiếc kính, ông dùng nó để thấy tiền kiếp của mình và nhìn tới cuộc đời sau này của ông:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi?”

Có vẻ như đây là một câu kinh kinh điển trong Thiên chúa giáo: “Cát bụi trở về làm cát bụi”, nhưng nó cũng lại đúng cả với kinh phật, nơi mà vạn vật đều có những kiếp sống của mình. Con người có kiếp trước, kiếp sau theo cái nghiệp của họ ở kiếp này. Hình ảnh hạt bụi như lại ám ảnh, con người về cái nhỏ nhoi của họ giữa vũ trụ bao la này, giữa những kiếp sống xô đẩy, tạm bợ. Cõi về của mỗi người có thể khác nhau, nhưng rồi ai cũng sẽ phải “về” theo một quy luật. Bởi vì, cuộc sống này không thuộc về họ, họ chỉ là những người ở trọ trên một trần gian cũng chẳng thuộc về họ:

Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xôi cuối trời…”

Tư tưởng, u buồn, mênh mang và chông chênh này có lẽ xuất phát từ những cuộc chiến tranh vô nghĩa. Trịnh Công Sơn là một người phản chiến, ông yêu sự sống và thù ghét súng đạn. Đời sống nay đây mai đó với những tương lai bất ổn có thể là nguyên nhân mà trí thức miền Nam lúc đó bị mê hoặc bởi chủ nghĩa hiện sinh. Chủ nghĩa hiện sinh đề cao cái bản ngã của con người, đặt bản ngã của con người vào những sự xung khắc, chạm trán, lo âu, nhưng trên hết những bản chất tốt đẹp của con người cũng sẽ vượt lên trên hết. Chủ nghĩa hiện sinh, đặt ra một cõi hư vô, con người có thể sống tốt đẹp với bản chất của mình mà không bị một tác nhân ngọai tại nào điền khiển. Trịnh Công Sơn, cũng thế, ông khát khao tìm về chốn vô định ấy. Ông “về” chứ không đến đấy. Đơn giản đó mới là nơi thuộc về con người. Trong nhạc Trịnh Công Sơn, ta cảm nhận nơi ấy thật huyền ảo, mơ mộng, chỉ biết qua những bài hát rằng nơi ấy, xa, xa lắm…

Có những ai xa đời quay về lại
Về lại nơi cuối trời
Làm mây trôi…”

Ông đã ý niệm về sự tồn tại về một cõi như vậy, nhưng ông loay hoay trong việc xác định đó là nơi đâu. Như ông đã từng quan niệm, rằng, ông đang lạc lối, dò dẫm trong chính “linh hồn phiêu lạc” của mình: Cái chp chn ca mt thân th phin não không biết mai nay mt n ra sao, c thc thm mun gi gm vào cuc đi mt linh hn phiêu lc. Tôi phiêu lc bao nhiêu năm ri trên mt dòng đi không b bến. Có khi tưởng b là bến. Có khi tưởng bến là bờ.” Hoặc như trong “Lời thiên thu gọi” ông cũng đã từng viết:

Chợt tôi thấy thiên thu
Là một đường không bến bờ…”

Ngòai những ý nghĩa siêu thực, chữ “Về” trong nhạc Trịnh còn mang một ý nghĩa thực hơn rất nhiều. Một người phiêu lạc, rồi cũng sẽ có lúc để tâm hồn nhạy cảm, ngoi đầu dậy nỗi nhớ quê hương, mái nhà. Trịnh Công Sơn là một người xa quê hương. Vì thế, chữ “về” trong nhạc Trịnh Công Sơn thể hiện một ước được trở về lại nơi máu thịt của mình:

Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
“Đêm thấy ta là thác đổ”

Hoặc như:

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa
Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì
“Bên đời hiu quạnh”

Niềm hạnh phúc lớn nhất của một người lữ hành đó là sự tự do, có thể lang thang qua những miền đất mới, khám phá những góc mới của tâm hồn mình, được sống như “mây bay gió thổi”. Nhưng nỗi đau lớn nhất của họ cũng chính từ sự tự do này. Cả cuộc đời Trịnh Công Sơn, sự xa quê, khắc vào ông nỗi nhớ vô hạn dành cho xứ sở. Nỗi nhớ ấy có thể chỉ là sự them muốn được ngồi dưới hiên của một mái nhà, hoặc chỉ là đương nghe tiếng gọi nhu mì của một ai kia. Những người lãng du bao giờ cũng có chung một câu hỏi là: “Ta thuộc về đâu ? Ta là ai ? Nơi nào là quê hương của ta, nơi nào ta sẽ phải dừng chân?” Trịnh Công Sơn, là một người lữ hành bẩm sinh. Trong tình yêu, ông duy cảm, bay bổng và phiêu lãng như vậy cho đến hết cuộc đời, ông chẳng bao giờ tìm được một người phụ nữ đủ sức trói đôi chân mình lại. Ông đi lướt qua cuộc đời, coi nó là một cuộc hành trình, nhưng rồi khi đối mặt với chặng cuối của nó, ông lại ngập ngừng:

Tiến thoái lưỡng nan
Đi về lận đận
Ngày xưa lận đận
Không biết về đâu
Về đâu cuối ngõ
Về đâu cuối trời”

Đoạn này được trích trong Tiến thoái lưỡng nan, bài hát cuối cùng của ông, được sang tác năm 2000, tức là chỉ một năm trước khi ông thực sự đi về. Lúc này, ông đã dự cảm được những gì sẽ xảy ra với mình. Tiến thóai lưỡng nan có lẽ là từ chính xác nhất để nói về tâm trạng của ông lúc đó, dùng dằng chưa dứt, nên ở hay nên về. Có lẽ ông vẫn còn quá thiết tha với cuộc đời, quá yêu cuộc đời để có thể buông tay ra khỏi nó. Hay là thực sự ông vẫn chưa biết rằng ông sẽ về đâu ? Hai câu Về đâu như là những câu hỏi, những thắc mắc mà ông vẫn chưa giải ra trong suốt cuộc đời mình.

Trịnh Công Sơn đã mãi loay hoay trăn trở chỉ với một chữ về ấy trong suốt cả cuộc đời này. Vậy thì bài viết nhỏ này chỉ như một võ đóan, tôi chỉ dám đặt bài viết của mình ở một thể không xác định. Chỉ mong rằng, ở một nơi nào đó, cuối cùng thì Trịnh Công Sơn đã biết được cõi về của ông là đâu…

**** Tài liệu tham khảo:

Cái chết, phật giáo, chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn, John C. Schafer, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10058&rb=0206

Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh, Gordon E. Bigelow, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10383&rb=0301

Chợt tôi thấy thiên thu là một con đường không bến bờ, Trịnh Công Sơn, http://www.petalia.org/Loveland/trinhcongson.htm

Permalink Leave a Comment