A Clockwork Orange: điên và tỉnh

April 23, 2009 at 10:00 pm (Movie, Politics)

Cho dù cũng đã chuẩn bị sẵn tư tưởng rằng bộ phim mình chuẩn bị xem sẽ rất là kỳ quặc và điên loạn, tôi vẫn cảm thấy choáng váng với mức độ điên cuồng (tờ Time dùng Degrees of Madness) mà đạo diễn Kubrik đã cố ý sắp đặt trong Clockwork Orange. Nhưng đôi khi những sự điên cuồng nói lên những điều rất tỉnh.

Stanley Kubrik là một người đặc biệt ở Hollywood. Đặc biệt không chỉ ở tài làm phim siêu việt của mình, mà còn ở chất quái trong những bộ phim của ông. Trong Dr. Strangelove or: How I Learned to Stop Worrying and Love the Bomb (1964), ông là người đầu tiên đem đề tài chiến tranh hạt nhân, vốn khá nhạy cảm, vào một bộ phim, hơn nữa lại là một bộ phim hài. Phong cách làm phim của Kubrik cũng rất ấn tượng, có những cảnh mà nhìn vào, ai cũng biết đó là của Kubrik. Đặc biệt nhất là cách quay bằng cách dùng ống kính mắt cá theo góc nhìn của nhân vật. Ở đây, những người đối diện với nhân vật chính trở nên méo mó và dị hợm, và diễn tả đúng tâm trạng khiếp sợ của nhân vật lúc đó. Kubrick đã dùng phương pháp này khi một phụ nữ khiếp sợ khi bị Alex tấn công và một lần nữa khi chính Alex bị viên cảnh sát nhục mạ.

Nhân vật chính Alex cũng là một kẻ điên cuồng và bệnh hoạn. Alex, chỉ khoảng 17-18 tuổi, là kẻ cầm đầu một băng nhóm tội phạm thiếu niên. Hắn là một kẻ khát khao bạo lực (ultra-violence) và tình dục. Bộ phim cũng có một cái khởi đầu mang cho người xem một cảm giác kỳ lạ. Đạo diễn quay sát khuôn mặt của Alex rồi từ từ lui ra để lộ ra một khung cảnh hắn đang ngồi cùng 3 tên đồng bọn, trong lúc đó giọng nói ồ ồ chầm chậm của Alex cất lên: “There was me, that is Alex, and my three droogs, that is Pete, Georgie, and Dim, and we sat in the Korova Milkbar trying to make up our rassoodocks what to do with the evening.” Đó là một quán sữa, với những bức tượng đàn bà khỏa thân và những con người ăn mặc quái dị. Cuốn phim diễn ra theo một trình tự chậm chạp. Phầm mở đầu tác giả dùng để kể về tội ác của Alex. Đây là phần nặng nhất và gây sốc cho người xem nhiều nhất. Thật tình, chẳng ai có thể không buồn nôn khi chứng kiến Alex đánh đập không thương tiếc một ông già ăn xin, hoặc khi Alex tấn công một cô gái. Đến khi Alex về lại gia đình mình, người xem lại biết thêm một sở thích đặc biệt khác của hắn: nhạc giao hưởng của Beethoven. Hắn hâm mộ Ludwig Van và bản giao hưởng số 9. Một tên côn đồ hạng bét yêu thích nhạc cô điển, đó đã là một sự đối lập đến điên cuồng.

Âm nhạc trong bộ phim cũng là một sự kỳ quặc đến lập dị của tác giả. Kubrik đã sử dụng bản giao hưởng số 9 của Beethoven để làm nên cho những cảnh quay của mình. Nhưng sự kỳ quặc ấy đặt trong một bộ phim kỳ quặc lại gây ra một hiệu quả kỳ lạ nơi người xem. Những cảnh quay tội ác khiếp đảm của Alex và đồng bọn lại được diễn trên nền bản giao hưởng có thể nói là hay nhất một thời đại (một chương trong đó được dùng làm thánh ca của châu Âu). Cảnh băng nhóm của Alex đánh nhau với một băng nhóm khác, dưới sự hỗ trợ của nhạc cổ điển và diễn xuất của diễn viên trở nên không khác gì một vở kịch. Tất cả bọn họ không phải đang đánh nhau, mà như đanh múa vậy, và tính bạo lực đã được giảm đi một cách triệt để. Đây là ngón nghề độc của Kubrik, khi ông đã khéo léo lồng những bản nhạc giao hưởng vào những bộ phim của mình, trước Clockwork Orange là 2001: A Space Odysse với bản The Blue Danuble.

Nếu nói về mặt doanh thu, Clockwork Orange là một thất bại thảm hại của Stanley Kubrik, khi mà nói theo ông bộ phim chỉ thu được “a few hundreds dollar.” Bộ phim cũng gây ra những tranh cãi liên miên về sex, violence của nó. Thậm chí, Stanley Kubrik còn thu lại bộ phim tại Anh vì sức ép quá lớn của dư luận, và chỉ được phát hành lại tại đây sau khi ông đã chết. Nhưng bộ phim luôn nằm trong top 100 của Viện hàn lâm điện ảnh Mỹ (American Film Institute) và với những điều rất “tỉnh” mà nó nói ra, nó cũng xứng đáng luôn với cái danh kiệt tác của mình. Điên loạn là vậy nhưng nội dung của bộ phim đọng lại những điều rất sâu sắc, rất đáng để suy ngẫm. Đó là vấn đề về sự tự do của con người, đối diện với nó là vai trò của chính quyền. Trong tiêu đề của bộ phim, clockwork là cái máy, orange chính là từ orangutan trong tiếng Malaysia có nghĩa là con vượn (man of jungle). Và chính phủ trong Clockwork Orange, đã cố gắng biến anh thành một cái máy, một con người được lập trình. Sau khi đã gây ra nhiều tội ác, Alex phải vào tù và được tham gia vào một dự án đáng sợ của chính phủ. Anh được tiêm thuốc gây ra sự sợ hãi và phải xem đi xem lại những bộ phim bạo lực, hãm hiếp. Dần dà, anh trở nên buồn nôn trước những hành động bạo lực và sex. Anh là một kẻ vô hại và là một con thỏ sau khi ra khỏi tù. Những kẻ mà trước đây Alex đã tấn công, quay lại trả thù một Alex không có sức kháng cự. Chính phủ liệu đã đúng khi mà biến một người thành một con thỏ rồi trả về một xã hội đầy rẫy những con sói ? Alex thực sự khiếp đảm trước bạo lực và sex nhưng điều đó không có nghĩa rằng anh đã là một con người lương thiện. Những suy nghĩ của anh vẫn như cũ, chỉ có một điều duy nhất khác là anh không có khả năng gây ra những điều đó. Như vậy, cái tham vọng biến một con người xấu thành người tốt của chính phủ đã thất bại. Vai trò của nhà tù cũng là một câu hỏi, khi mà việc họ cải tạo một người xấu thành người tốt là bất khả thi còn phương pháp biến người xấu thành người tốt của chính phủ lại là một tội ác. Nói như Stanley Kubrik, ông đã tạo ra “con quỷ” Alex làm đủ mọi chuyện xấu xa trên thế gian chỉ để nói lên rằng hành động can thiệp của chính phủ vào lương tri của con người đã biến họ thành một con quỷ vương. Nếu thành công với Alex, có lẽ chính phủ sẽ lập trình nên những con người khác, sẽ bắt tất cả mọi người phải run sợ, buồn nôn trước những cái xấu hơn là giáo dục mọi người rằng đó là những điều xấu. Rõ ràng, con người có quyền để lựa chọn, lựa chọn cách nào để làm người tốt, lựa chọn cái nào là cái tốt và thậm chí lựa chọn một chính phủ tốt.

Bộ phim kết thúc với vẻ mặt tười cười của Alex khi bắt tay với người đứng đầu chính phủ. Đó là một nụ cười lương thiện, khác hẳn với nụ cười ma quái của anh ở lúc đầu phim. Chẳng ai trả lời được, sau lần này, chính phủ có tẩy não mọi người để ai cũng có thể cười như Alex không. Nhưng nếu có, cũng chẳng có gì lạ, cũng đã có những chính phủ tẩy não tất cả để mọi người đều cười rồi…

Permalink Leave a Comment

Những giọt nước mắt thật khác

April 23, 2009 at 9:59 pm (Politics)

Có một người đã từng nói như thế này: “Trẻ con dùng nước mắt để đối phó với người lớn, phụ nữ lấy nước mắt để đối phó với đàn ông, còn đàn ông thì sao? Chỉ có thể dùng nước mắt để đối phó với thế giới.” Đàn ông ít bao giờ rơi nước mắt, nhưng không có nghĩa là họ không khóc. Tạm thời bỏ qua những vấn đề “khóc” thuộc dạng sến củ cải của đàn ông mà tôi nghe ra rả trên đài: thất tình, mất việc, hoặc như “nước mắt đàn ông không rơi từng giọt”…vân vân và vân vân. Đứng dưới những góc độ tâm lý học, những quy tắc của xã hội đã hạn hẹp phép tự do biểu lộ cảm xúc của đàn ông, họ có thể đập bàn, đập ghế, phùng mang trợn má, nhưng tuyệt đối không hề khóc. Những giọt nước mắt của đàn ông không mang nhiều những ý nghĩa về cảm xúc, nó thiên về cách đàn ông đối nhân xử thế, hay là ứng phó với thế giới. Có những trường hợp, giọt nước mắt rơi xuống là giọt nước mắt khôn ngoan, được người đời sau khen ngợi, ngược lại cũng có những giọt nước mắt mà ngàn năm sau người ta vẫn không tiếc lời chê bai.

Để đạt được một mục tiêu, đoạt lấy một cơ đồ hay một giang sơn, người ta không chỉ cần tài trí, mà đôi khi còn cần cả nước mắt. Lưu Bị là một bậc thầy trong việc này. Trong Tam Quốc, tác giả xây dựng Lưu Bị là một nhân nhân đức, bao dung, thương dân như con. Nước mắt có lúc là phương tiện để tác giác truyền đạt cái ý trên. Đó là khi, Lưu Bị khóc Quan Vũ mấy ngày ròng, ai ai cũng cảm phục mối tình vườn đào thâm sâu Lưu Quan. Tuy nhiên, những giọt nước mắt chính trị của Lưu Bị mới là cái biệt tài của vị hoàng đế này.Ở Trung Quốc bây giờ, người ta vẫn còn dùng đến thành ngữ “khóc như Lưu Bị”, quan niệm Lưu Bị dùng nước mắt đoạt thiên hạ cũng rất phổ biến. Có lẽ, ai đã từng đọc Tam Quốc cũng tự hỏi: nước mắt của hắn ở đâu mà lắm thế. Nhờ nước mắt, Lưu Bị vời được Khổng Minh về dưới trướng. Nhỏ một hàng lệ mà có được bộ óc kiệt xuất nhất thời Tam Quốc thì Lưu Bị chỉ có lời chứ không có lỗ. Đến đoạn Lỗ Túc Đông Ngô đòi đất Kinh Châu, Bị lại khóc, khóc thảm thiết đến mức mà quân địch phải lui quân đi. Đó đều là những việc mà không phải ai cũng đều làm được.

Một giọt nước mắt, tuy nhỏ, nhưng tác động của nó đối với người đối diện, tuỳ trường hợp, lại rất lớn. Dùng đúng lúc đúng chỗ có thể thay cho hàng vạn trang giấy mực, có thể khích lệ người tài hoặc làm hổ thẹn kẻ tiểu nhân. Tào Tháo trong Tam Quốc cũng là một người biết khóc vì mục đích, và hai giọt nước mắt chính trị của ông, một lần đã làm tất cả binh sĩ cảm động, lần kia lại làm ai ai cũng hổ thẹn. Điển tích Tào Tháo khóc Điển Vi xứng đáng là những trang viết xúc động nhất về mối quan hệ quân thần trước kia. Trong một trận đánh úp của địch, quân Ngụy bị bất ngờ nên trở tay không kịp. Tào Tháo lúc đó còn đang vui vẻ với mấy ả đào trong chướng. May thay, Điển Vi, với không một miếng giáp che thân, liều mình để Tào Tháo có đường thoát thân. Điển Vi tử trận, Tào Tháo thì may mắn thoát được đã lập bàn thờ cúng tế mà khóc thương Điển mãnh tướng rằng: ““Con trưởng, cháu yêu ta đều không lấy làm đau lắm, chỉ tiếc Điển Vi mà thôi!”. Các tướng sĩ nghe thấy ai ai cũng cảm động. Lần khác, đó là khi Tào Tháo thoát chết từ trận Xích Bích trở về. Tướng sĩ vui mừng bèn mở tiệc chào đón. Đột nhiên, giữa tiệc Tào Tháo khóc rống lên rằng: “Ta khóc Quách Phụng Hiếu vậy! Nếu Phụng Hiếu còn, quyết ko để ta phải đến nỗi này”. Nói rồi ôm ngực khóc “Ôi Phụng Hiếu! Đau xót thay Phụng Hiếu! Tiếc thay Phụng Hiếu.” Tướng sĩ lại cảm thấy hổ thẹn cho chính mình. Cũng là khóc một người, nhưng một lần làm binh sĩ cảm động mà tận tâm với mình, lần khác lại làm bề dưới phải hổ thẹn để dốc sức cho mình. Có lẽ rằng, chỉ mình họ Tào mới làm được điều này.

Đôi lúc, giọt nước mắt cũng có thể biến thành nước thánh. Người khóc cũng có thể biến thành chúa Jesus. Trong những tình huống hiểm nghèo, anh hùng, sau một đêm có thể bị biến thành nơi hứng chịu cơn thịnh nộ của dư luận, giọt nước mắt lăn ra và họ lại là một người hùng trong mắt mọi người. Hãy nhìn lại lịch sử của Việt Nam sau năm 1945. Công cuộc cải cách ruộng đất của đảng cộng sản Việt Nam trở thành một cuộc thử nghiệm thất bại. Những con số thống kê về những người bị oan từ ý chí của người đề ra quyết sách chẳng bao giờ được. Lịch sử là một quyển sách không hoàn chỉnh về số trang và cuộc cải cách ruộng đất luôn nằm trong vùng tối của sự thật. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra trước Quốc hội để xin lỗi nhân dân. Cụ đã khóc. Nhân dân miền Bắc lúc đó đã tha lỗi cho cụ, tuy nhiên Tổng bí thư Trường Chinh vẫn phải chịu mất chức. Bây giờ, câu chuyện ấy đã phai màu mực, và hình ảnh xin lỗi nhân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh không còn được nhắc đến nhiều vì nó gắn liền với một giai đoạn mà nhiều người không bao giờ muốn nhắc đến nữa.

Chính trị thực ra chỉ là một trò chơi, nhiều luật lệ hơn và cũng nhiều kỹ xảo hơn. Những kỹ xảo và những âm mưu dưới những mỹ từ đẹp đẽ và nước mắt là lớp giấy gói quà nhiều màu nhất cho những mưu đồ ấy. Giọt nước mắt có thể đánh lừa hàng vạn người và thi vị hoá một âm mưu. Người xưa có câu “mèo khóc chuột.” Trong Tam Quốc, con mèo ấy là Gia Cát Lượng còn con chuột là Chu Du. Ai cũng biết rằng Du vì uất Lượng quá mà đâm ra chết. Nghe tin Du chết ắt Lượng cũng mừng thầm trong bụng vì vừa diệt được một kẻ thù nguy hiểm vừa thấy rằng mưu kế mình giăng ra đã có hiệu quả. Gia Cát đến viếng Chu Du, vừa viếng vừa khóc than hệt như giữa họ có mối thân giao từ lâu lắm vậy. Nếu không vì Gia Cát nói lời mà không biết giữ, thì Chu Du cũng đã đâu chết nhanh như vậy đâu. Ấy vậy mà những giọt nước mắt của Gia Cát Lượng đã làm mờ mắt những nhân sĩ Đông Ngô. Tướng lĩnh, ai ai cũng khen Gia Cát Lượng là người nhân nghĩa. Gia Cát Lượng là thần cơ diệu toán, bậc thầy của trò chơi chính trị thời Tam Quốc, những giọt nước mắt của ông không thể đo bằng thứ cảm xúc yếu mềm mà đo bằng những lợi tức mà nó đem lại.

Cảm xúc sẽ nặn ra những giọt nước mắt. Nhưng khi lý trí đè bẹp được cảm xúc nó cũng sẽ nặn ra những giọt nước mắt thật khác. Khóc bằng giọt nước mắt nào, bình thường hay thật khác, đôi khi, trong cuộc đời này, không phải do chúng ta chọn…

Permalink 2 Comments

Chiến thắng và đêm trắng

April 23, 2009 at 9:58 pm (Football)

Đời người có những giấc mộng dài vô tận. Có những người cả đời đi tìm một niềm hạnh phúc. Như người họa sĩ, hay nhà thơ, chỉ mong suốt một kiếp sống dài đằng đẵng này có một bài thơ hay một bức tranh để đời. Còn đời cầu thủ, ngắn chỉ bằng một gang tay cũng chỉ mong có một trận đấu, hay một bàn thắng để đời. Hôm nay, những cầu thủ Việt Nam đã có tất cả mà một cầu thủ có thể mơ ước: một bàn thắng kịch tính, một trận bóng cống hiến và một chức vô địch đã được cả đất nước này chờ đợi từ vài chục năm nay.

Những con người hôm nay làm nên lịch sử sẽ được lịch sử đáp trả bằng một chỗ đứng trang trọng. Những con người hôm nay đã thiêu cháy người hâm mộ bằng niềm vui, hân hoan vô bờ bến sẽ được người hâm mộ đáp trả bằng những tình cảm cao quý nhất. Họ không phải vác súng, họ không phải ra chiến trường, nhưng họ đã chiến đấu, chiến thắng như những chiến sĩ. AFF cup, cũng là một cuộc chiến mà trong đó Việt Nam phải chiến thắng bản thân trước khi chiến thắng những Thái Lan, Singapore. Có ai đó nói rằng bóng đá chỉ là một trò chơi, nhưng bản thân tôi luôn luôn nghĩ rằng, ở đây, Việt Nam bóng đá là một thứ tôn giáo của cả nước. Và tối hôm nay, với chiến tích này, đó có thể là cuộc thập tự chinh vĩ đại hoặc cũng thể là một cuộc trường chinh hằng mấy mươi năm.

Viết về sự hâm mộ cuồng nhiệt của người Việt Nam đối với bóng đá, viết về tinh thân yêu nước của người Việt sẽ là quá dư thừa. Những người nước ngoài ai đó đềm cảm thấy ngỡ ngàng và choáng váng trước tình yêu bóng đá của người Việt Nam. Bóng đá có lúc làm những người con nước Việt thất vọng tràn trề, nhưng rồi tình yêu Tổ Quốc lại khiến người hâm mộ dễ dãi hơn lúc nào hết để bỏ qua tất cả những lỗi lầm ấy. Lần này, bóng đá đã đền đáp lại sự rộng lượng ấy. Cơn bão tài chính, tiền tệ, khủng hoảng kinh tế, tất cả chỉ là những nếp nhăn đã bị thổi bay đi không thương tiếc trên gương mặt mọi người. Vì người ta vui, người ta có thể “no” bằng những niềm hân hoan mà không cần đến những cơm áo gạo tiền kia.

Đêm nay, Việt Nam sẽ không ngủ. Mấy chục năm rồi mới có được một đêm như đêm nay. Hãy cùng ước ao một điều rằng đếm nay rồi sẽ dài như mấy chục năm cộng lại. Vì niềm vui là quá còn một đếm trắng thì lại quá ngắn…

Permalink Leave a Comment

Nếu cả thế giới mang cùng một khuôn mặt…

April 23, 2009 at 9:57 pm (My World)

Nếu cả thế giới mang cùng một khuôn mặt. Ta nhìn vào mặt người như nhìn vào những tấm gương. Giống nhau kỳ lạ. Ta tự hỏi, ta giống họ hay họ cũng chính là ta. Khi ta cười, ta thấy môi người cũng đang nở. Lúc ta khóc, ta thấy mắt người cũng đẫm ướt. Khóc, cười, buồn vui, ta và người làm việc ấy như sự bức thiết của bản năng. Cảm xúc ư, nó như là tờ giấy than đã nhạt đi rất nhiều sau khi phải vẽ ra ngần ấy những mặt người giống nhau. Và rồi, chẳng còn ai có thời gian để quan tâm đến việc ấy, vì họ còn phải lao đi để tìm những thứ giống nhau…

Nếu cả thế giới mang cùng một khuôn mặt. Những gã trai sẽ tán gái cùng một kiểu y khuôn. Lãng mạn nhưng giả dối. Lả lướt nhưng sân si. Họ sẽ cùng tuôn ra những lời y hệt như nhau, những câu có cánh cũ đến mức chẳng còn có thể bay. Trên mình họ sẽ là những bộ quần áo vay mượn ý tưởng từ những củ sâm, những chàng ca sĩ ỏng ẹo mà họ cùng yêu thích. Những cô gái của họ sóng sánh bên họ, bá cổ vịn vai theo cùng một tư thế trên những chiếc xe giống nhau đến từng chiếc que tăm. Những cuộc tình rồi sẽ tự tàn lụi khi qua đầy đủ những công đoạn và giai đoạn, như một mùa lúa thời vụ, một cách giống hệt nhau.

Nếu cả thế giới mang cùng khuôn mặt. Tôi sợ sẽ đến một ngày tôi chẳng thể phân biệt gặp một cô gái 10 lần một ngày với gặp 10 cô gái một ngày khác nhau chỗ nào. Tôi sợ lắm rồi những kiểu tóc mà cả thế giới cùng thẳng một kiểu, cùng xoăn một kiểu. Những người tóc đen lại có những sợi tóc vàng giống hệt nhau. Các cô ấy sẽ vào những rạp phim để xem cùng một bộ phim, để cùng khóc một kiểu cho những anh chàng đẹp trai nhưng xấu số. Không bệt họ có cùng mong thằng người yêu của họ cũng bị ung thư không nhỉ ?

Nếu cả thế giới mang cùng khuôn mặt. Tôi sẽ chẳng cần hỏi bạn là ai. Vì tôi biểt rằng, cho dù ai, câu trả lời cũng sẽ là “tôi là tôi”, “tôi là chính tôi”… Đương nhiên tôi biết bạn là bạn rồi. Nhưng vì thế giới nay mang cùng khuôn mặt, hay cả thế giới này cũng “tôi là tôi” nên tôi chẳng biết bạn là ai hết. Nhưng mà có quan trọng không nhỉ khi bạn giống với cả thế giới này rồi, biết được bạn là ai rồi, có khác gì chăng ?

Nếu cả thế giới mang cùng khuôn mặt. Cả thế giới sẽ chẳng mang một khuôn mặt nào…

Permalink Leave a Comment

Điểm tựa văn hoá

April 23, 2009 at 9:56 pm (Politics)

“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng được cả Trái Đất” đấy là câu nói nổi tiếng của nhà vật lý cổ đại Archimedes. Những gì khó khăn nhất trong cuộc đời cũng có thể vượt qua được nếu như mỗi người trong chúng ta có một điểm tựa. Tôi hạnh phúc vì tôi có những điểm tựa vững chắc là gia đình tôi, bạn bè… và tôi nghĩ rằng mọi người chắc ai cũng có một điểm tựa nào đó cho mình để khi mệt mỏi ta có thể dựa lưng, ngả gối. Đấy là trên phương diện cá nhân. Còn trên phương diên của một quốc gia thì thế nào ? Những quốc gia chắc chắn cũng phải cần những điểm cho riêng mình. Ngày xưa, chúng ta cũng có những điểm tựa là những anh Hai, anh Ba. Nhưng ngày nay, những người anh ấy đã không còn coi thằng em chúng ta là “thằng em”, thậm chí có những lúc những người anh những người em ấy lại gà cùng một nhà đá nhau. Vậy thì ta phải tạo ra những điểm tựa khác, bền vững hơn, chắc chắn hơn. Và không gì khác hơn,văn hóa sẽ là điểm gốc tạo ra những sức mạnh to lớn mà bình thường chúng ta chưa chắc đã có được, hệt như một chiếc đòn bẩy.

Văn hóa chính là điểm tựa cho một cú nhảy lớn, một cú bật vọt để trở thành Thánh Gióng, là xương sống cho một ngày mai người khổng lồ có thể lớn dậy. Không có văn hóa, đất nước sẽ như một người thiếu sức đề kháng, mẫn cảm với những biến đổi không ngừng của thế giới và tác động của những kẻ lăm le một lần nữa muốn đổi tên nước Việt chúng ta. Chúng ta cứ hô hào cảnh giác để bảo vệ từng tấc đất của tổ tiên, hô hào yêu nước, yêu Tổ quốc, đoàn kết để cùng đối phó với kẻ thù. Những lời hô hét dù lớn đến đâu, những khâu hiệu dù mỹ miều đến mức nào cũng chẳng thể làm run sợ kẻ thù nếu như vẫn còn những người tin rằng Bảo Đại là vua Trung Quốc hay Hai Bà Trưng là một người anh hùng họ là Hai tên là Bà Trưng. Bảo vệ Tổ quốc không chỉ đơn thuần là việc bảo vệ từng hạt cát, từng hòn đảo, những cái mà chúng ta đang có mà còn là việc bảo vệ cả những cái đã-từng-thuộc-về-chúng-ta.

Trong đám đông, để một người nhận ra chúng ta không phải là một việc đơn giản nếu như chúng ta chấp nhận hoà lẫn vào đám đông hoặc không có những cá tính đặc biệt để chỉ cần một cú hắt hơi cũng không ai có thể lẫn tiếng hắt hơi ấy với tiếng hắt hơi của người khác. Một đất nước cũng cần những cá tính và văn hoá chinh là cái để ta phân biệt ta với Tàu hay Tàu với Tây… Đất nước chúng ta có một nền văn hoá riêng và đó là cái để giữ cho chúng ta vẫn còn tồn tại được đến ngày nay, tức là khoảng vài nghìn năm sau cái ngày chúng ta tự nhận chúng ta là người Việt, nước Việt. Trong khoảng thời gian ấy, những sự giao thoa về văn hoá giữa hai nước láng giềng là không thể tránh khỏi, vị thế của một nước nhỏ đã làm cho chúng ta phải chịu những ảnh hưởng ít nhiều của văn hóa Trung Quốc. Nhưng, và tuyệt nhiên, chúng ta không bao giờ đánh mất chính mình. Ví dụ như trông lĩnh vực nghệ thuật gốm sứ, những kết luận gần đây của các nhà khoa học đó là mặc dù có những ảnh hưởng nhất định từ phía Trung Hoa, các nghệ nhân nước Việt cũng đã thành công trong việc tạo ra những bản sắc cho gốm sứ Việt Nam. Những làng gốm ngày xưa như Bát Tràng, Chu Đậu đã tạo ra được những món đồ tinh xảo để xuất khẩu qua châu Âu. Văn hoá, đó là những thứ ta nhìn vào để ta thấy tự hào và tạo ra trong chúng ta một nghĩa vụ giữ gìn và bảo vệ. Đó chính là sức mạnh của dân tộc.

Tôi vẫn còn nhớ như in lời của thầy tôi khi được thầy giảng về Văn miếu quốc tử giám: “Hãy xem thử lúc chúng ta có được Văn miếu thì ở nước Mỹ có gì. Chỉ là một vũng lầy phải không?” Những chỉ số kinh tế hôm nay cho phép chúng ta biết được hôm nay ta đứng đâu trong thế giới, còn những thứ thuộc về tinh thần như Văn Miếu, tranh Đông Hồ… cho phép chúng ta biết được ta là ai. Vậy là đủ. Trong cuộc đời này, chỉ cần biết ta là ai và ta đang đứng ở đâu. Biết được ta đứng ở đâu rồi thì hãy tự hỏi vị trí đó có xứng đáng với “ta là ai” hay chưa ?

Permalink Leave a Comment

Bạc mệnh

April 23, 2009 at 9:55 pm (Music)

Tối nay, Hollywood tưng bừng với lễ trao giải Oscar. Những người hâm mộ môn điện ảnh sẽ ngồi lại để chờ xem liệu bộ phim mình yêu thích có được giải thưởng này không. Những diễn viên cũng sẽ hồi hộp từng phút giây để chờ khỏanh khắc vinh quang của người chiến thắng. Và Heath Ledger, có lẽ cũng sẽ có những cảm giác mong đợi tương tự, nhưng không phải là từ một dãy ghế nào đó của khán phòng Kodak, mà là từ một nơi nào đó rất xa…thiên đường chẳng hạn. Bất chợt Heath Ledger làm tôi nhớ đến John Lennon và Freddie Mercury. Họ đều là những người đã lỡ vận vào mình cái án ngàn năm “Tài hoa chi lắm cho trời đánh ghen”…

Không biết khi thi hào Nguyễn Du viết ra câu thơ trên, ông nghĩ rằng có bao nhiêu phần trăm sự xác tín trong việc ông trời đánh ghen tài năng con người. Chỉ biết rằng cái chết của con người tài hoa John Lennon lại có cái gì đó rất giống như… bị trời đánh. Tức là một cái chết bất thình lình, một cái chết mà chẳng mang đến trước đó bao nhiêu dự cảm. Những ngày sau, tin tức về cái chết của John làm cả thế giới phải bang hòang. Chẳng một ai có thể ngờ rằng, người ca sĩ mà họ hằng yêu mến, ngày trước còn lên truyền hình, vậy mà lại ra đi một cách đột ngột. John ra đi, 5 năm sau ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, lúc mà những người Việt Nam vẫn còn nợ anh một lời cảm ơn về tất cả những gì anh đã làm cho đất nước này. Những ngày ở New York, tôi có dịp ghé thăm ngôi nhà nằm trên đường 72, nơi anh ở và cũng là nơi những viên đạn oan nghiệt cướp đi của thế giới một tài năng âm nhạc. Ở phía đối diện, bên trong cổng phía tây của công viên Central Park, là khu tưởng niệm Strawberry Fields. Tôi đến đó, đặt cho anh một bó hoa. Có người đặt cho anh một thỏi chocolate, một đĩa nhạc John Lennon, hay chỉ là những tấm thiệp chúc mừng năm mới. Tôi ngồi bên một cái ghế đá hồi lâu, lặng nhìn những dòng người ra vào khu tưởng niệm, và lẩm nhẩm “Imagine there is no heaven…”. Imagine you’re still living…

Ngòai John Lennon ra, còn có một người khác cũng gây cho tôi cái cảm giác tiếc nuối tương tự, đó là Freddie Mercury, chàng ca sĩ chính của Queen. Tôi thích giọng hát của anh, có lẽ là người nghe rock nào cũng vậy, là khi nghe anh hát Bohemian Rhapsody cao chót vót. Đoạn “Mama, life has just begun” có lẽ ngòai anh ra chẳng còn ai có thể hát ngọt như vậy. Rồi trong Love of My Life nữa chứ, chất giọng tenor của anh cất lên thì nghe vừa ngọt ngào “Love of my life…” vừa cay đắng và trách móc vừa tiếc nuối vừa van ai. Những lời những lời hát, có lúc ngọt ngào như một lời thì thầm, có lúc đau khổ như một tiếng khóc không thành tiếng. Như John Lennon, Fred Mercury cũng đã ra đi ở cái tuổi mà anh vẫn còn có thể cống hiến rất nhiều cho âm nhạc. Nhưng nếu như ở John, bi kịch chỉ xảy ra ở cái chết đau đớn thì cả cuộc đời của Fred là một khúc đoạn trường. Đó là cuộc hôn nhân đổ vỡ với người bạn gái năm xưa Mary Austin, mối quan hệ đồng giới bí mật với một người thợ hớt tóc và cuối cùng là sự thất bại trước căn bệnh thế kỷ AIDS. Những lời ca trong những bài hát của Mercury luôn chất chứa những nỗi thất vọng, cái chết cận kề “Goodbye everybody, I gotta go”, “mama, I don’t wanna die” (Bohemian Rhapsody). Và rồi cái gì đến cũng phải đến, chỉ 12h đồng hồ sau khi thừa nhận mình đã mắc phải AIDS, anh đã vĩnh viễn ra đi ở cái tuổi 45 mang theo những sự tiếc nuối của những người yêu mến Queen nói chung và bản thân anh nói riêng. Bây giờ, mỗi lần nghe nhạc của Queen tôi lại thầm ước, giá như anh đừng chết quá trẻ, cả thế giới sẽ lại có nhiều thêm những kiệt tác như là: We will rock you, We’re the champions…

Trong “The Show must go on” Freddie Mercury đã từng hát rằng:

“The Show must go on!
The Show must go on! Yeah!
Ooh! Inside my heart is breaking!
My make-up may be flaking!
But my smile, still, stays on!
Yeah! oh oh oh”

Bây giờ, khi vắng anh, mọi người vẫn sẽ hát “The show must go on”, như những bài hát của anh, anh vẫn còn ở trong trái tim mọi người. Còn với John Lennon, chúng tôi sẽ hát tặng anh Imagine và Yesterday vì chỉ có trong tưởng tượng và trong quá khứ chúng tôi mới có thể gặp lại anh. Biết thế, nhưng có lẽ ai cũng có một phần tiếc nuối cho những bậc tài hoa nhưng bạc mệnh…

Permalink Leave a Comment

Cõi về

April 23, 2009 at 9:52 pm (Music)

“Trong mt gic ng bng bnh không gi gic ca mùa xuân, tôi thng thi thy b bến bng rã tan thành nhng cánh bèo mông lung vô đnh.” Đây là những tâm sự đáy lòng của người nhạc sĩ tài hoa, quan niệm của ông về một cuộc đời mông lung và hư ảo. Cuộc đời ông, trăn trở về một cõi thiên thu siêu thực, nó giống như cõi Hư vô của những người theo chủ nghĩa hiện sinh hoặc như là cõi tịnh niết bàn của đạo Phật. Vậy thì cuộc đời này, đối với họ Trịnh chỉ như một cõi tạm. Nó như một bến chờ, hoặc điểm xuất phát, hoặc có khi là một cái ga cuối của một vòng tròn luân hồi. Đi và về, bờ và bến, nơi này là đâu ? Suốt cuộc đời, Trịnh Công Sơn trăn trở mãi một chữ “Về”, nhưng là về đâu ?

Phần lời của những bài hát Trịnh Công Sơn thương là những mảng rời rạc, như là những tiếng vọng đứt quãng của một tâm hồn lẩn khuất trong đêm. Trịnh Công Sơn viết nhạc không chỉ để kể một câu chuyện, tả về một mối tình, đó là lời tâm sự của một người trải đời. Ông tâm sự rằng, ông đam mê triết học nên muốn đem những triết lý ấy của mình vào những bài hát. Vì thế, những bài hát của Trịnh Công Sơn, ta chỉ có thể nghe và cảm nhận bằng những đụng chạm, lời ca đụng chạm vào một phần trực giác của chúng ta. Hãy nghe Trịnh Công Sơn của cuộc đời mình qua “Một Cõi Đi Về”:

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về
…”

“Về” với Trịnh Công Sơn là một cõi. Khi Trịnh Công Sơn đã dung từ “cõi”, Trịnh Công Sơn đã coi nó như hố đên của định mệnh, sớm muộn gì nó cũng hút những kiếp người về phía nó. Như là cõi sống và cõi chết, con người phải sống và cuối cùng phải đi về cõi tử. Trịnh Công Sơn từ chối nói về cái chết, ông chỉ có một cõi đi và một cõi về, theo chu kỳ trăm năm của một đời người. Điều này được lý giải bởi thuyết luân hồi của Phật giáo, luân là bánh xe và hồi là quay trở lại, kiếp người cứ như một vòng xe lăn mãi. Con người, không sinh ra, chỉ là sống lại từ tiền kiếp, con người không chết đi, mà là bắt đầu một kiếp sống mới. Như trong “Ngẫu nhiên”, ông đã từng viết:

Không có đâu em này, không có cái chết đầu tiên
Và có đâu bao giờ, đâu có cái chết sau cùng…”

Cao Huy Thuần đã nói rằng: “Trịnh Công Sơn như vừa đứng ở hiện tại vừa linh cảm cùng trong một lúc quá khứ và tương lai. Anh như thấy tiền kiếp réo tên và cái chết vẫy gọi.” Và chữ về của Trịnh Công Sơn như một chiếc kính, ông dùng nó để thấy tiền kiếp của mình và nhìn tới cuộc đời sau này của ông:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi?”

Có vẻ như đây là một câu kinh kinh điển trong Thiên chúa giáo: “Cát bụi trở về làm cát bụi”, nhưng nó cũng lại đúng cả với kinh phật, nơi mà vạn vật đều có những kiếp sống của mình. Con người có kiếp trước, kiếp sau theo cái nghiệp của họ ở kiếp này. Hình ảnh hạt bụi như lại ám ảnh, con người về cái nhỏ nhoi của họ giữa vũ trụ bao la này, giữa những kiếp sống xô đẩy, tạm bợ. Cõi về của mỗi người có thể khác nhau, nhưng rồi ai cũng sẽ phải “về” theo một quy luật. Bởi vì, cuộc sống này không thuộc về họ, họ chỉ là những người ở trọ trên một trần gian cũng chẳng thuộc về họ:

Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xôi cuối trời…”

Tư tưởng, u buồn, mênh mang và chông chênh này có lẽ xuất phát từ những cuộc chiến tranh vô nghĩa. Trịnh Công Sơn là một người phản chiến, ông yêu sự sống và thù ghét súng đạn. Đời sống nay đây mai đó với những tương lai bất ổn có thể là nguyên nhân mà trí thức miền Nam lúc đó bị mê hoặc bởi chủ nghĩa hiện sinh. Chủ nghĩa hiện sinh đề cao cái bản ngã của con người, đặt bản ngã của con người vào những sự xung khắc, chạm trán, lo âu, nhưng trên hết những bản chất tốt đẹp của con người cũng sẽ vượt lên trên hết. Chủ nghĩa hiện sinh, đặt ra một cõi hư vô, con người có thể sống tốt đẹp với bản chất của mình mà không bị một tác nhân ngọai tại nào điền khiển. Trịnh Công Sơn, cũng thế, ông khát khao tìm về chốn vô định ấy. Ông “về” chứ không đến đấy. Đơn giản đó mới là nơi thuộc về con người. Trong nhạc Trịnh Công Sơn, ta cảm nhận nơi ấy thật huyền ảo, mơ mộng, chỉ biết qua những bài hát rằng nơi ấy, xa, xa lắm…

Có những ai xa đời quay về lại
Về lại nơi cuối trời
Làm mây trôi…”

Ông đã ý niệm về sự tồn tại về một cõi như vậy, nhưng ông loay hoay trong việc xác định đó là nơi đâu. Như ông đã từng quan niệm, rằng, ông đang lạc lối, dò dẫm trong chính “linh hồn phiêu lạc” của mình: Cái chp chn ca mt thân th phin não không biết mai nay mt n ra sao, c thc thm mun gi gm vào cuc đi mt linh hn phiêu lc. Tôi phiêu lc bao nhiêu năm ri trên mt dòng đi không b bến. Có khi tưởng b là bến. Có khi tưởng bến là bờ.” Hoặc như trong “Lời thiên thu gọi” ông cũng đã từng viết:

Chợt tôi thấy thiên thu
Là một đường không bến bờ…”

Ngòai những ý nghĩa siêu thực, chữ “Về” trong nhạc Trịnh còn mang một ý nghĩa thực hơn rất nhiều. Một người phiêu lạc, rồi cũng sẽ có lúc để tâm hồn nhạy cảm, ngoi đầu dậy nỗi nhớ quê hương, mái nhà. Trịnh Công Sơn là một người xa quê hương. Vì thế, chữ “về” trong nhạc Trịnh Công Sơn thể hiện một ước được trở về lại nơi máu thịt của mình:

Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà
Từ những phố kia tôi về
“Đêm thấy ta là thác đổ”

Hoặc như:

Một lần chợt nghe quê quán tôi xưa
Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì
“Bên đời hiu quạnh”

Niềm hạnh phúc lớn nhất của một người lữ hành đó là sự tự do, có thể lang thang qua những miền đất mới, khám phá những góc mới của tâm hồn mình, được sống như “mây bay gió thổi”. Nhưng nỗi đau lớn nhất của họ cũng chính từ sự tự do này. Cả cuộc đời Trịnh Công Sơn, sự xa quê, khắc vào ông nỗi nhớ vô hạn dành cho xứ sở. Nỗi nhớ ấy có thể chỉ là sự them muốn được ngồi dưới hiên của một mái nhà, hoặc chỉ là đương nghe tiếng gọi nhu mì của một ai kia. Những người lãng du bao giờ cũng có chung một câu hỏi là: “Ta thuộc về đâu ? Ta là ai ? Nơi nào là quê hương của ta, nơi nào ta sẽ phải dừng chân?” Trịnh Công Sơn, là một người lữ hành bẩm sinh. Trong tình yêu, ông duy cảm, bay bổng và phiêu lãng như vậy cho đến hết cuộc đời, ông chẳng bao giờ tìm được một người phụ nữ đủ sức trói đôi chân mình lại. Ông đi lướt qua cuộc đời, coi nó là một cuộc hành trình, nhưng rồi khi đối mặt với chặng cuối của nó, ông lại ngập ngừng:

Tiến thoái lưỡng nan
Đi về lận đận
Ngày xưa lận đận
Không biết về đâu
Về đâu cuối ngõ
Về đâu cuối trời”

Đoạn này được trích trong Tiến thoái lưỡng nan, bài hát cuối cùng của ông, được sang tác năm 2000, tức là chỉ một năm trước khi ông thực sự đi về. Lúc này, ông đã dự cảm được những gì sẽ xảy ra với mình. Tiến thóai lưỡng nan có lẽ là từ chính xác nhất để nói về tâm trạng của ông lúc đó, dùng dằng chưa dứt, nên ở hay nên về. Có lẽ ông vẫn còn quá thiết tha với cuộc đời, quá yêu cuộc đời để có thể buông tay ra khỏi nó. Hay là thực sự ông vẫn chưa biết rằng ông sẽ về đâu ? Hai câu Về đâu như là những câu hỏi, những thắc mắc mà ông vẫn chưa giải ra trong suốt cuộc đời mình.

Trịnh Công Sơn đã mãi loay hoay trăn trở chỉ với một chữ về ấy trong suốt cả cuộc đời này. Vậy thì bài viết nhỏ này chỉ như một võ đóan, tôi chỉ dám đặt bài viết của mình ở một thể không xác định. Chỉ mong rằng, ở một nơi nào đó, cuối cùng thì Trịnh Công Sơn đã biết được cõi về của ông là đâu…

**** Tài liệu tham khảo:

Cái chết, phật giáo, chủ nghĩa hiện sinh trong nhạc Trịnh Công Sơn, John C. Schafer, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10058&rb=0206

Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh, Gordon E. Bigelow, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10383&rb=0301

Chợt tôi thấy thiên thu là một con đường không bến bờ, Trịnh Công Sơn, http://www.petalia.org/Loveland/trinhcongson.htm

Permalink Leave a Comment

Chúc ngủ ngon

April 23, 2009 at 9:50 pm (My World)

Ngủ ngon em nhé, những giấc mơ

Ngủ ngon em nhé, những đợi chờ

Anh sẽ không đến cùng hơi thở

Đem lời ru và những vần thơ

Anh sẽ nhắn gủi ánh trăng già

Để đêm nay trải bóng thật dài

Ôm gọn trong em những thổn thức

Vuốt ve em một mái tóc ngà

Rồi anh sẽ bảo làn gió nhé

Cứ vẩn vơ bên em khe khẽ

Đừng làm động hàng mi e ấp

Mà mơn man vành tai thật nhẹ

Hàng cau hôm nay đừng ngủ vội

Hãy thức cùng em một đêm thôi

Dang đôi tay vai điền thật khỏe

Cho em một con gió mồ côi…

Đêm sẽ sang mùa cùng bình yên

Ngập ngừng ngày sẽ bước lên thềm

Rồi nắng hồn nhiên buông lơi hỏi

“Em ngủ ngon không, em thật hiền ?”

Permalink Leave a Comment

Những cô gái đến từ hôm qua

April 23, 2009 at 9:48 pm (My World)

Một năm không phải một khoảng thời gian quá dài cho những quá khứ hoá kiếp. Những ký ức không có tác dụng tô vẽ nên cho những hiện tại. Mà thực ra, hiên tại và quá khứ khác nhau thế nào ? Chúng đứt đoạn hay nối tiếp dài theo một chuỗi thời gian. Tôi chỉ nghĩ rằng, quá khứ và hiện tại chỉ như hai chàng trai đang chạy đua với nhau, ta sống nhờ hiện tại vì lúc ấy chàng trai quá khứ đã ở phía sau. Ngày hôm nay, tôi sắp lại đường đua, giỡn nghịch một tí để khỏi bị thời gian làm cũ đi tâm hồn, tôi để hiện tại quá khứ xuất phát cùng một điểm và thử xem cái nào đến với tôi trước tiên. Thỏ và rùa, ai lại ngờ đâu hôm nay quá khứ lại về đích trước, và hắn mang cho tôi những ký ức về những… cô gái. Tôi tạm gọi là những cô gái đến từ hôm qua.

“Ngày hôm qua” gần nhất có lẽ đến từ một năm trước. Tôi quen em thật tình cờ qua blog, tiếp đó là những buổi gặp nhau ngoài đời. Em nhỏ hơn tôi vài tuổi và em nghịch ngợm như một chàng trai. Tôi “hợp rơ” với em vì những đam mê con trai của tôi cũng được em chia sẻ. Tôi tò mò và ấn tượng với kiểu con gái cá tính ấy, giống như việc nếm cà fê sau mỗi lần ăn kem ngọt vậy, đắng đắng, là lạ nhưng lại khó quên. Mà em, lại là một trong những vị café đắng nhất. Tròn một năm, tôi gặp lại em. Em lớn hơn, xinh hơn và tóc em cũng dài hơn. Nét mềm mại và dịu dàng bọc cho em một hình hài nữ tính. Còn những niềm đam mê “ kiểu con trai” của em, chúng đã vơi đi khá nhiều. Không ai tắm hai lần trên một dòng sông, và ai mà chằng phải thoát ra cái kén tuổi thơ để một lần lớn dậy. Đôi lúc, tôi cũng gặp lại em của một năm trước mà tôi đã gặp. Những lúc ấy, tôi chỉ cuời và nhớ lại…

Tuổi thơ là dạng ngọt ngào nhất của quá khứ. Tuổi thơ đẹp và hiền hoà như chính cái tên của nó, và nó chẳng làm đau ai, một viên kẹo mà vì cay đắng quá nhiều với cuộc đơi con người lại lấy ra ngậm. Trong ngày hôm qua của tuổi thơ, cũng có một cô gái tinh nghịch và dễ mến. Em lẽ ra là “em”, nhưng những ngày tuổi thơ tôi coi em như là một người bạn. Chúng tôi đùa giỡn bỗ bã và trong cách xưng hô chưa bao giờ có một khoảng cách để tôi hay em thấy rằng đó là vài tuổi. Tháng ngày ấy trôi qua, em và tôi có những ngã rẽ khác nhau để đi. Ngày hôm nay nhìn lại, những ngã rẽ ấy tuy khác nhau nhưng lại về chung ở những điểm dừng. Tiếc là, khi em đến những điểm dừng ấy, tôi đã đến điểm dừng khác. Thế là, cả vài năm nay tôi không gặp em, có lẽ là có nhưng chỉ là những ngắn ngủi mà tôi chưa kịp chú ý. Rồi tôi cũng gặp lại em, nhưng chỉ là trong thế giới ảo. Tôi mong bốn năm đã qua mang cho tôi những chờ mong, những buồn vui của một lần gặp lại, tiếc thay nó chỉ mang lại cho tôi những ngại ngần. Tôi ngại kêu lại những biệt danh của em, tôi ngại những tiếng bỗ bã, vì chúng quá con nít cho cái tuổi của em. Và những khoảng cách trong xưng hô sẽ mang theo những khoảng cách khác. Thôi thì chấp nhân vậy, để một lần gặp lại tôi thấy em “khác”.

Người cuối cùng làm cho tôi cảm thấy mình chứ không phải là Hà Anh Tuấn đang hát: “Đến một ngày, bỗng nhìn lại, em lớn xinh…” Ngày hôm qua, tôi nhớ về em chắc cũng nhạt nhoà như những gì em biết về tôi. Em nghịch, em cắt tóc ngắn và hết. Tôi dường như chẳng biết em đâu nếu như thiếu những lần, em lên lớp trên để ghi tên các chàng trai nghịch phá, như tôi chẳng hạn. Quá khứ nhạt nhoà như vậy chẳng làm tôi không thể sững sờ trước em ngày hôm nay. Em lớn. Em xinh. Em đẹp. Tôi không biết rằng, nếu như thiếu cái quá khứ nhạt nhoà ấy, tôi có bất ngờ đến vậy không ? Em là một cô gái đến từ hôm qua mà đến tận hôm nay tôi mới tìm về…

Ngày hôm qua, tôi không mang nỗi nhớ nào. Nếu tôi trót vướng vào một vài nỗi nhớ để mang đến ngày mai, thì chắc là do các em đấy, Những cô gái đến từ hôm qua…

Permalink Leave a Comment

Tuyệt Tình Cốc 2.0

April 23, 2009 at 9:46 pm (My World)

Những con người yêu nhau tự trú mình trong những trái tim nóng bỏng, những nơi mà một trái tim đủ lớn để bao bọc một trái tim khác. Vậy đi về đâu những trái tim lạc bầy? Thế giới này 6 tỉ người, vậy mà không đủ chẵn, để cho một vài trái tim lại cảm thấy mình là số lẻ.

Những con người lẻ loi ấy có thể xoá đầy những cô đơn bằng những nguồn cơn vùng vẫy. Được bao lâu ?

Giá như Tuyệt Tình Cốc không quá xa xôi.

Giá như Tuyệt Tình Cốc không là một ảo ảnh đẹp.

Như chính cái tên gọi của nó, Tuyệt Tình Cốc không phải nơi chỗ cho những con tim vướng tơ yêu. Kim Dung đã đặt ra những thứ đau đớn, những phạt hình cho một hành động đã thúc đẩy con người thoát lốt hoang dại, có quá nhẫn tâm chăng ? Tôi chỉ nghĩ rằng, ông đã tạo ra một Tuyệt Tình Cốc, với hoa Vô Tình đẹp thơ ngây thuần khiết chỉ để tạo ra một nơi trên trái đất này động từ “Yêu” không thể hiện diện. Và nơi đó xứng đáng để những trái tim mỏi mệt, ngồi tựa lưng, hát những lời ca cay đắng…

Không ai biết rằng, Kim Dung đã đóng vai định mệnh trêu đùa nhân gian, hay vì mỹ từ “Yêu” xứng đáng phủ màu hồng lên tẩt cả những khoảng đen ? Khi mà những người duy nhất, mà chúng ta từng biết, đã đến Tuyệt Tình Cốc là những người tình nhân. Họ không tìm đến, lạc nhau, đau đớn đến cùng cực… và sau này lại trở thành một biểu tượng của một tình yêu ngây thơ thời võ hiệp. Nơi xứng đáng dành cho những kẻ muốn đoạn tuyết với những vướng víu lỡ mang từ thưở loài người biết xúc cảm lại là nơi để một tình yêu vĩ đại lên ngôi ? Đó như là một trò đùa…

Con người cũng cần lắm những Tuyệt Tình Cốc. Họ đi tìm nó nhưng chẳng bao giờ dám tạo ra nó. Cần lắm một Tuyệt Tình Cốc bước tư những trang giấy và đi vào cõi đời. Vì con người đã tạo ra quá nhiều những hạnh phúc nằm trên những quả bom hẹn giờ, cứ hưởng hạnh phúc và chẳng bao giờ nghĩ đến quả bom… Vì con người đã tạo ra tình yêu, ngất ngây vì ngọt và tái tê vì đắng. Trớ trêu hay không, khi loài hoa Vô Tình, sinh ra để trừng phạt thứ cảm xúc thiêng liêng ấy, lại có cùng một mùi vị như vậy: mới nhai thì nghe ngọt dịu, sau dần nuốt vào thì thấy đắng đắng, chát chát“…

Cũng như tình yêu, con người cũng nên có những Tuyệt Tình Cốc khác để trừng phạt nỗi nhớ. Những chuyện vui, họ thường muốn tận hưởng nó mà quên ghi lại. Những chuyện buồn, họ lại muốn nhớ nó mà quên rằng phải quên nó đi. Những nỗi đau không bao giờ giống nhau, những nỗi nhớ lại mang những vết cứa sâu hơn lên vùng tự vệ của tinh thần. Một sợi dây thong lọng, càng siết càng chặt và những nỗi đau sẽ sâu hơn, cho đến khi con người biết rằng, quá khư như đám bụi, hãy cứ để nó yên…

Vậy thì đừng ghét Tuyệt Tình Cốc. Và tôi gọi nó là Tuyệt Tình Cốc 2.0 hay Tuyệt Tình Cốc của nỗi nhớ…

Permalink Leave a Comment

« Previous page · Next page »